Động Đình Hồ Ngoại Sử
Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Thể loại: Truyện kiếm hiệp
Lượt xem: 3211284
Bình chọn: 8.5.00/10/1128 lượt.
-châu.
Chứ chưa từng nghe Quốc-tổ là Phục Hy, Thần Nông.
Khất đại-phu nhìn Đào Kỳ cười:
– Đào tiểu hữu! Ngươi nổi tiếng là thông thạo lịch sử Hán, Việt. Ngươi giải nghĩa cho vợ nghe đi chứ.
Đào Kỳ được Đào-hầu dạy rất kỹ về lịch sử Lĩnh Nam. Chàng lại được thừa
hưởng di sản văn hóa Trung-quốc từ Lục Mạnh-Tân. Về sử học, chàng hiểu
biết rất rộng bỏ xa Phương-Dung. Chàng khẽ đập tay lên vai vợ:
– Để anh nói cho em nghe. Em phải phân biệt lập-quốc với tổ-tiên. Khi
theo quân từ Giao-chỉ sang Quế-lâm. Hẳn em có qua Cấm-sơn, đọc bia của
Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung chứ?
– Có! Em đọc một lượt thuộc làu. Trong đó nói Đế Minh cháu ba đời Thần
Nông, đi tuần thú phương Nam. Đến núi Ngũ-lĩnh, gặp nàng tiên kết hôn
với nhau, sinh ra Thái-tử Lộc Tục. Ngài lập đàn tế cáo trời đất. Phong
cho con trưởng làm vua phương Bắc tức vua Đế Nghi. Thái-tử Lộc Tục làm
vua phương Nam tức Kinh-Dương vương. Ừ nhỉ... thì ra Lĩnh Nam với
Trung-nguyên cùng gốc ở một ông tổ.
– Quốc-tổ Kinh-Dương vương lập quốc năm Nhâm-Tuất. Lấy năm ấy là năm
đầu. Sử gọi ông là vua Hồng-Bàng thứ nhất. Phương Bắc năm ấy là niên
hiệu vua Đế Nghi thứ 10.
Đô Dương ngắt lời Đào Kỳ:
– Như vậy khi vua Kinh-Dương lên ngôi, thì vua Đế Nghi đã băng hà. Đế
Nghi làm vua được 10 năm. Không biết lúc bấy giờ Kinh-Dương vương bao
nhiêu tuổi?
Đào Kỳ đáp ngay:
– Sử không chép. Song các môn phái Lĩnh Nam đều chép rằng: Khi vua Đế
Minh lập đàn, tế cáo trời đất, ấn định lấy núi Ngũ-lĩnh làm cương giới
phân chia Trung-nguyên với Lĩnh Nam là năm Nhâm-Tý (2889 trước Tây
lịch). Sau đó truyền ngôi cho con trưởng, là vua phương Bắc tức vua Đế
Nghi. Lấy năm đó làm năm đầu. Bấy giờ Thái-tử Lộc-Tục mới ra đời. Vậy có thể kết luận Kinh-Dương vương lên làm vua lúc 10 tuổi.
Phương-Dung hỏi:
– Thế khi vua Kinh-Dương lên ngôi triều đại Thần Nông đã được bao nhiêu năm? Vua Phục Hy trước hay sau vua Thần Nông?
– Kể từ năm Thần Nông thứ nhất đến Hồng Bàng năm đầu gần 239 năm. Như
vậy triều đại Thần Nông đến khi vua Kinh-Dương vương lên ngôi thì chia
làm hai. Bắc do vua Đế Nghi, Nam do Kinh-Dương Vương. Bắc sau thành
Trung-nguyên, Nam thành Lĩnh Nam. Đến đời Lạc Long Quân, Lĩnh Nam đổi
quốc hiệu là Văn Lang. Đời An-Dương vương đổi thành Âu Lạc. Tuy vậy
trong dân gian cứ dùng danh hiệu Lĩnh Nam. Sử Trung-nguyên chỉ ghi chép
từ vua Thần Nông. Vua Phục Hy trước vua Thần Nông. Em gái của ngài là Nữ Oa. Người Trung-nguyên cứ cho Phục Hy, Nữ Oa là không có thật, vì họ
không còn dấu vết gì. Ngược lại Lĩnh Nam mình còn đủ chứng tích, sử chép đầy đủ.
Khất đại-phu cười:
– Con bé Dung thấy chưa, Trung-nguyên, Lĩnh Nam cùng một nguồn gốc từ
Thần Nông. Tuy sử Trung-nguyên không ghi chép vua Phục Hy, bà Nữ Oa vì
không còn di tích. Thế nhưng truuyền tụng dân gian vẫn còn. Vì vậy họ
mới thờ kính.
Đào Kỳ tiếp:
– Kết lại, nguồn gốc Lĩnh Nam phải kể từ vua Phục Hy, kế tiếp tới vua
Thần Nông, Kinh Dương Vương. Vì vậy người Việt có tam Hoàng. Người Hán
cũng có tam Hoàng. Tam Hoàng của Hán là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế.
Tam Hoàng của Việt là Phục Hy, Thần Nông, Kinh Dương (2).
Ghi chú
(2) TAM HOÀNG
Nói về Tam Hoàng, giữa hai quốc gia Trung-quốc, Việt-nam không thống
nhất. Ngay tại nội địa Việt-nam, nội địa Trung-quốc cũng không đồng
nhất.
1. TẠI TRUNG QUỐC,
1.1. bộ sách đầu tiên nói đến Tam Hoàng là Chu Lễ chương Thiên ngoại quan sử chép:
Chưởng Tam Hoàng Ngũ Đế chi thư.
(Giữ sách của Tam Hoàng Ngũ Đế)
1.2. Các sử gia Trung-quốc không thống nhất về Tam Hoàng.
a) Sách Hà đồ Tam Ngũ lịch, Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng.
b) Sách Thượng-thư Đại Truyện, Tam Hoàng là Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông.
c) Sách Bạch Hổ Thông, Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Toại Nhân.
d) Khổng An-Quốc trong bài tựa sách Thượng Thư và Hoàng-phủ Mật trong Đế vương thế-kỷ thì tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế.
Về phương diện tôn giáo, người Trung-quốc thờ Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế làm Quốc-tổ.
Năm 1976, thuật giả có viếng cố đô Trường-an, Hàm-dương, (nay thuộc tỉnh Thiểm-tây huyện Tây-an), nhân đó viếng đền thờ Tam Hoàng ở về phía Tây
Trường-an khoảng 70 cây số. Trong đền thờ Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa.
Một đền khác thuộc vùng Phù-phong lại thờ Phục Hy, Thần Nông và Hoàng
Đế.
2. TẠI VIỆT NAM,
Nói về tam Hoàng càng khác nhau:
a) Có nơi ảnh hưởng của Trung-quốc, thờ Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế. Đến đời Lý thì bỏ.
b) Có nơi thờ Phục Hy, Thần Nông, Kinh-Dương làm Tam Hoàng.
c) Có nơi thờ vua An-Dương, Kinh-Dương, Trưng-Vương làm Tam Hoàng.
d) Có nơi thờ Phục Hy, Thần Nông, Hùng-Vương làm Tam Hoàng.
e) Có nơi thờ chung Phục Hy, Thần Nông, An-Dương, Trưng-Vương.
Nhiều người Việt yêu nước quá khích, đến độ những gì có liên hệ với
Trung-quốc đều gạt ra. Họ chỉ chấp nhận Quốc-tổ là An-Dương Vương. Song
trải qua các triều đại Việt-nam đều chấp nhận Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Kinh Dương. Triều Nguyễn (1802-1945) các vua vẫn tế Phục Hy, Thần Nông, Kinh Dương, An Dương.
Độc giả muốn tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt, xin đọc các sách của
giáo s
