g ở Hứa Đô.
Đời sau có thơ khen rằng:
Sống chết khăng khăng vững một lòng.
Khảng khái thay đáng bực anh hùng!
Nhời vàng đá nọ sao không dụng?
Tài sến lim kia huống bỏ không!
Một bụng giúp người, trung với chúa,
Chút tình giã mẹ, xót cho ông.
Bạch Môn khi ấy còn ghi tiếng,
Thiên hạ ai là kẻ sánh cùng!
Đương khi Tào Tháo tiễn Trần Cung xuống lầu, Lã Bố ngoảnh mặt lại Lưu Bị trách rằng:
- Ông là khách trên ghế, tôi là tù dưới thềm, sao không nói giúp cho một nhời?
Lưu Bị gật đầu.
Đến khi Tào Tháo trở lên, Bố kêu rằng:
- Ông không lo ngại ai bằng lo ngại tôi. Nay tôi đã chịu ông. Ông làm đại tướng, tôi làm phó tướng, việc thiên hạ khó gì không định nổi?
Tháo ngoảnh mặt lại hỏi Huyền Đức:
- Thế nào?
Huyền Đức nói:
- Ông còn nhớ chuyện Đinh Kiến Dương và Đổng Trác không?
Bố nhìn vào Lưu Bị nói:
- Thằng này thực là vô tín.
Tháo sai đem xuống lầu thắt cổ. Bố lại ngoảnh lại bảo Lưu Bị rằng:
- Thằng tai to kia, quên mất công ta bắn kích ở nha môn rồi à?
Chợt có một người quát to lên rằng:
- Đồ hèn Lã Bố kia! Chết thì chết, sợ gì!
Chúng nhìn xem ai, thì là Trương Liêu, đang bị quân đao phủ dẫn đến.
Tháo sai đem Lã Bố xuống thắt cổ rồi mới chặt đầu đem bêu.
Đời sau có thơ rằng:
Nước cả mênh mông ngập Hạ Phì.
Nhớ khi Lã Bố bắt mang đi!
Ngựa khoe Xích Thố, làm gì được?
Kích cậy phương thiên, có ích chi?
Trói hổ còn mong chi trói lỏng?
Nuôi ưng, mới biết cũng nuôi thì.
Nghe lời vợ, chẳng nghe lời tướng,
Mắng kẻ tai to khéo chẳng suy!
Lại có thơ luận về Huyền Đức rằng:
Trói hổ xin đừng trói hững hờ.
Kìa! Kìa! Đinh, Đống máu còn nhơ.
Đã hay hổ đói hay ăn thịt.
Để thịt Tào Man chẳng được dư?
Bấy giờ võ sĩ giải Trương Liêu đến. Tháo trỏ vào Liêu mà bảo rằng:
- Thằng này trông quen quen!
Liêu nói:
- Phải, gặp nhau trong thành Bộc Dương, đã quên rồi ư?
Tháo cười mà hỏi rằng:
- Thế ra mày còn nhớ à?
Liêu nói:
- Nhưng rất đáng tiếc!
Tháo hỏi:
- Tiếc cái gì?
Liêu nói:
- Tiếc hôm ấy lửa không cháy to đốt chết thằng quốc tặc là mày!
Tháo giận lắm, mắng rằng:
- Tướng đã thua sao dám làm nhục ta?
Rút gươm ra định giết Trương Liêu. Liêu chẳng sợ hãi vì vươn cổ chờ chết. Sau lưng Tào Tháo có người giữ tay lại, một người nữa quỳ trước mặt can rằng:
- Xin thừa tướng hãy dừng tay.
Thế thực là:
Lã Bố kêu van không đáng cứu;
Trương Liêu khảng khái mới nên tha!
Chưa biết hai người đến cứu Trương Liêu là ai, hồi sau mới phân giải.
Tào A Man ra săn ruộng Hứa Điền;
Đổng quốc cữu vâng chiếu trong nội các.
Người vít cánh tay Tào Tháo là Lưu Bị; người quỳ trước mặt Tào Tháo là Quan Vũ.
Lưu Bị nói:
- Người có lòng son như thế nên giữ lại.
Quan Vũ nói:
- Tôi vốn biết Văn Viễn (Trương Liêu) là người trung nghĩa, tôi xin lấy tính mệnh đảm bảo.
Tháo vứt gươm xuống, cười và nói rằng:
- Ta cũng biết Văn Viễn là người trung nghĩa, cho nên đùa đấy thôi.
Tháo bèn tự tay cởi trói cho Trương Liêu, cởi áo ra mặc cho Trương Liêu rồi mời ngồi lên ghế.
Liêu cảm phục, bèn xin hàng.
Tháo cất Liêu lên làm trung lang tướng, cho tước quan nội hầu, sai đi chiêu dụ Tang Bá. Bá thấy Lã Bố đã chết, Trương Liêu đã hàng, cũng đem quân bản bộ về hàng. Tào Tháo thưởng cho rất hậu.
Tang Bá lại chiêu an được Tôn Quan, Ngô Đôn và Doãn Lễ, chỉ còn có Xương Hi là chưa phục.
Tháo phong cho Tang Bá làm tướng huyện Lương Gia. Lũ Tôn Quan cũng được làm quan cả, Tháo sai lũ ấy giữ mạn bể hai châu Thanh và Từ, rồi sai đem vợ con Lã Bố về Hứa Đô. Tháo mở tiệc khao quân, nhổ trại mang quân về.
Khi Tháo qua Từ Châu, nhân dân đốt hương bái vọng, đông chật cả đường, xin để Lưu Bị ở lại làm thân mục.
Tháo nói:
- Lưu sứ quân công to, hãy và chầu vua phong tước, rồi sẽ ra nhậm Từ Châu cũng chưa muộn.
Trăm họ lạy tạ. Tháo sai xa kị tướng quân là Xa Trụ, quyền lĩnh chức mục Từ Châu.
Tháo đem quân về Hứa Đô, phong thưởng cho các tướng sĩ. Còn Lưu Huyền Đức thì để nghỉ ngơi ở nhà bên cạnh tướng phủ.
Hôm sau vua Hiến Đế khai trào.
Tháo dâng biểu tâu quân công của Huyền Đức và đem Huyền Đức vào chầu vua.
Huyền Đức mặc đồ trào phục, lạy dưới thềm son. Vua truyền cho lên điện, rồi hỏi rằng:
- Tổ người là ai?
Huyền Đức tâu rằng:
- Tôi là dòng dõi Trung Sơn Tĩnh Vương, cháu xa đức Hiếu Cảnh hoàng đế, cháu Lưu Hùng và con Lưu Hoằng.
Vua sai lấy sổ tôn tộc ra kiểm xem, rồi sai quan tông chính khanh tuyên đọc:
Hiếu Cảnh hoàng đế sinh mười bốn con, con thứ bảy là Trung Sơn Tĩnh Vương tên là Lưu Thắng; Thắng sinh ra Lục Thành đinh hầu là Lưu Chính; Chính sinh ra Bái Hầu là Lưu Ngang; Ngang sinh ra Chương Hầu là Lưu Lộc; Lộc sinh ra Nghi Thủy Hầu là Lưu Luyến; Luyến sinh ra Khâm Dương Hầu là Lưu Anh; Anh sinh ra An Quốc Hầu là Lưu Kiến; Kiến sinh ra Quảng Lăng Hầu là Lưu Ai; Ai sinh ra Giao Thủy Hầu là Lưu Hiến; Hiến sinh Tổ Ấp Hầu là Lưu Thư; Thư sinh Kỳ Dương Hầu là Lưu Nghị; Ng