con hầu giờ này thường mang
cơm tới, nhưng khi ánh đèn đến gần thì ra là một nhà sư. Trên lồng đèn
nhà sư cầm thấy đề chữ “Sơn Thần Miếu”.
- A di đà Phật.
Bà Hồ Điểu chạy ra.
- Xin cho bần tăng hỏi thăm, quý thí chủ phải chăng là Hồ Điểu lão bá ?
- Dạ phải, đại sư có điều chi dạy bảo ?
- Bần tăng ngụ Ở miếu Sơn thần. Chiều nay có kiếm khách đến hỏi thí chủ. Biết thí chủ thường lên lễ miếu, vị đó để lại thư này nhờ chuyển cho
thí chủ. Nhân có việc vào thành, bần tăng mang đến giao cho thí chủ đây.
Nói đoạn, móc trong bọc ra một cuộn giấy niêm kỹ đưa cho bà Hồ Điểu. Bà
cúi đầu đỡ cuộn giấy, mời nhà sư vào trong nhà dùng trà. Nhưng nhà sư
thoái thác, viện lẽ trời tối, sợ vào thành khuya quá rồi lui bước.
“Chẳng biết thư của ai đây ?”. Bà Hồ Điểu vào phòng, cởi dây buộc và bật dấu sáp niêm. Bà ghé thư vào ánh đèn đọc. Càng đọc mặt bà càng tái
nhợt, tay cầm tờ giấy mỏng run lật bật.
- Oa Tử !
- Con đây ! Tiếng nàng đáp từ trong phòng vọng ra.
- Thôi khỏi cần pha trà. Nhà sư đi rồi !
- Con pha xong rồi đây. Nếu khách đi rồi thì bà con ta uống.
- Hừ, con này hỗn. Ta có phải là cái ống cống đâu mà ngươi muốn đổ nước gì vào thì đổ. Để trà đấy, mặc áo đi với ta.
Oa Tử ngạc nhiên:
- Đi đâu ?
- Đi giải quyết cái việc ngươi đang mong chứ đi đâu !
- À thế thư là của Mãn Hà Chí đấy hả bà ?
- Không việc gì đến ngươi !
Oa Tử tiu nghỉu. Nàng không hiểu sao bà Hồ Điểu đối với nàng hay giận dữ như thế. Nàng cho là vì tuổi già, bà dễ buồn bực.
- Để con gọi người dọn cơm.
- Vậy ngươi chưa ăn cơm à ?
- Chưa, con đợi bà về.
- Ta ăn cơm ngoài tiệm rồi. Thật con này ngu chẳng ai bằng. Vậy xuống bếp bảo họ dọn cơm mà ăn. Mà nhanh nhanh lên đấy.
Oa Tử mở cửa bước ra, bà còn gọi với:
- Đêm nay chắc lạnh. Ngươi đã khâu xong áo cho ta chưa ?
- Dạ xong cái kimono rồi.
- Ta không nói cái kimono. Ta nói cái áo khoác ngoài kia. Ta đã lấy ra
để ngươi khâu cùng một lúc với chiếc kimono mà. Lại còn đôi bít-tất nữa, giặt chưa ? Và chiếc quai dép cũng sắp đứt rồi, bảo họ đi mua cho ta
đôi khác ...
Những lời sai bảo của bà Hồ Điểu đổ lên đầu Oa Tử dồn dập như mưa bấc,
đến trả lời còn không kịp, nói gì làm xong. Oa Tử vâng dạ liên hồi. Lòng sợ hãi bà Hồ Điểu bắt nguồn từ khi nàng còn ở làng khiến nàng tê dại
không còn biết phản ứng ra sao, chẳng khác gì con ếch nhỏ bị thôi miên
trước đôi mắt sắc lạnh của con rắn.
Cơm dọn ra, Oa Tử không còn muốn ăn nữa. Nàng nhịn luôn. Tàn nén hương,
bà Hồ Điểu ở trên nhà đã giục lên đường. Oa Tử mang áo khoác, gậy và dép của bà đặt trước cửa.
- Thế đèn đâu ?
- Phải mang đèn nữa ư ?
- Mô Phật ! Sao lại có người ngu đến thế ! Tối thu thế này mà ngươi để ta lần mò trên núi không đèn đóm gì hay sao ?
- Con quên mất. Để con đi lấy.
Oa Tử không dám hỏi bà Hồ Điểu đi đâu, về hướng nào, sợ lại làm bà nổi giận.
Nàng chạy đi mượn chiếc đèn lồng rồi cắm cúi đi trước, theo con đường
nhỏ dẫn đến chân núi Sơn Ninh. Cả hai lặng lẽ bước. Sương đêm lùa vào
áo. Oa Tử lạnh nhưng trong lòng nàng mừng rỡ vì sắp gặp Mãn Hà Chí.
Trước mặt bà Hồ Điểu, nàng sẽ mạnh dạn trình bày những điều u uẩn, những điều ray rứt nàng bấy lâu nay và sẽ giúp nàng giải quyết êm đẹp vấn đề
tình cảm của hai người, Mãn Hà Chí và nàng. “Xong rồi, ta sẽ đến lâu đài Lưu tướng công gặp Giang. Ta phải gặp nó mới được”.
Nghĩ đến đây Oa Tử vui hẳn lên, không thấy lạnh và cũng không còn đói nữa.
Đêm khuya trèo núi thật chẳng dễ gì, nhất là đối với một bà già và một
thiếu nữ yếu đuối như Oa Tử. Cả hai phải thận trọng từng bước để khỏi
ngã trẹo chân hay sa xuống hố.
Thỉnh thoảng tiếng cú rúc đằng xa làm đêm vắng càng thêm tịch mịch. Trời cao đen thẫm, vài ngôi sao thưa nhấp nháy.
Đi được một lúc khá lâu, bà Hồ Điểu dừng lại lắng tai nghe. Hình như có
tiếng rì rào, gió đưa vẳng tới khi xa khi gần, không phân biệt được về
hướng nào.
- Oa Tử ! Tai người còn thính, nghe phải tiếng suối không ? Về phía nào vậy ?
Oa Tử chú ý rồi lấy tay chỉ:
- Về phía này.
- Đúng rồi. Ta chắc đấy là suối sau phía miếu Sơn thần.
Quả nhiên đi một thôi nữa, tiếng suối nghe rõ mồn một. Suối không lớn
nhưng tiếng kêu rào rào của dòng nước đổ vào ghềnh đá trong đêm vắng
nghe gần như chỉ cách chỗ hai người đứng chừng vài chục trượng. Bà Hồ
Điểu và Oa Tử lại cắm cúi đi. Đến bên một cây anh đào thật lớn cành xòe
ra như tán, hoa rụng đầy đất, thấy chiếc bảng gỗ lợp mái. Oa Tử giơ đèn
soi, thấy trên bảng viết sáu chữ:
“Sơn thần miếu, anh đào thụ”. Bà Hồ Điểu giằng lấy đèn trên tay Oa Tử, kề sát bảng đọc cho rõ.
Đọc xong bà gọi, tiếng vang động cả sơn lũng:
- Mãn Hà Chí ! Mãn ... Hà ... Chí í í ... Mẹ đây !
Bà run run chứng tỏ bị khích động đến cùng cực. Sắc mặt bà nhợt nhạt
nhưng ánh mắt long lanh. Lòng mẹ thương con toát ra trên khắp cơ thể bà, từ cánh tay gầy guộc run rẩy vịn vào tấm bảng bên gốc đào đến những lời lắp bắp bà nói, chẳng biết với Oa Tử hay với chính bà:
- Nó bảo đợi ta ở đây mà ! Mãn ... Hà ... Chí í ...
Oa Tử gần bà Hồ Điểu đã lâu nhưng chưa bao giờ thấy bà bị khích động sâu xa đến thế.
- Oa Tử ! Chớ để đèn