on trai thứ hai rằng: “Lần này con trở về thì ở nhà một thời
gian đi. Sắp năm mới rồi, trong nhà bận rộn, con cũng phải giúp đỡ một chút.”
Anh ta
đáp: “Nhi tử biết. Đã khiến mẫu thân lo lắng.”
Lúc
này, người hầu bưng lên một nồi thịt hầm cay. Đồ ăn này trước kia Đông Tề vốn
không có, sau khi tới đây tôi mới chỉ đạo đầu bếp làm. Người nhà họ Tạ phần lớn
đều có khẩu vị nhẹ, không phải không thích ăn cay, mà vì xưa nay Đông Tề không
có đồ ăn cay ngon miệng. Tôi đành làm một Dae Jang Geum của Đông Tề, tự mình
xuống bếp làm mấy món cay Tứ Xuyên, thành ra lại được mọi người yêu thích. Từ
đó về sau, những món đó xuất hiện trên bàn tiệc gia đình rất nhiều lần.
Tạ
Chiêu Anh thấy tôi ăn ngon lành, ngạc nhiên nói: “Tứ muội, muội đổi khẩu vị từ
bao giờ vậy?”
Tạ phu
nhân nói: “Sau khi Tiểu Hoa khỏi bệnh, khẩu vị nặng hơn rất nhiều, Cũng không
biết Tiểu Hoa học được ở đâu tay nghề nấu ăn, mấy món “cung bạo kê đinh”, “ngư
hương nhục ti”, và cả cái gì “hoàng muộn áp” trên bàn đều theo cách làm của
Tiểu Hoa, mùi vị không tệ, con cũng nếm thử đi.”
Tạ
Chiêu Anh ngờ ngợ gắp một miếng thịt, cho vào miệng chậm rãi nhai: “Đúng là rất
ngon. Tứ muội học từ ai vậy?”
Vẫn cớ
cũ: “Linh cảm bộc phát.”
“Linh
cảm từ đâu?”
Tôi
hung dữ nói: “Có một con gà ban đêm xông vào sân của muội, uống nước trà của
muội, khi nó bị giết, muội phát hiện ra thịt nó vô cùng tươi ngon. Do đó muội
mới đặc biệt chọn mấy con gà cho uống nước trà để làm đồ ăn, vậy mới làm ra
được món ăn tuyệt thế, lưu danh thiên cổ: trà thủy kê.”
Tạ
Chiêu Anh bĩu môi, vùi đầu ngoan ngoãn ăn cơm.
Sau đó,
tôi thường xuyên đụng mặt Tạ Chiêu Anh trong Tạ gia. Anh ta dường như không có
việc gì làm, đợi chết già ở trong nhà, hai vị bô lão nhà họ Tạ có vẻ cũng đã
không còn chút hy vọng nào với anh ta, nên cũng không can thiệp nhiều.
Một lần
đi ngang qua hòn giả sơn trong hoa viên, tôi chợt nghe thấy giọng nói èo uột
của anh ta: “Liên Nhi, nàng biết không, nếu nàng là gió, ta chính là cát. Nàng
và ta, mãi mãi bên nhau…”
Lời
thoại như quả bom Hy-đro kia nổ bùm một cái, hất bay tôi tới tận sao Diêm
Vương.
Đại
khái là tôi đã phát ra âm thanh gì đó, một tiểu nha hoàn cúi đầu chạy ra, nhanh
như chớp đã không thấy đâu nữa. Tôi nhớ hình như cô ấy là nha hoàn của Tạ phu
nhân. Đươc lắm, Tạ Chiêu Anh, dám tới tận chỗ bà bô để ăn vụng.
Bên
này, Tạ Chiêu Anh sửa sang lại quần áo, bình tĩnh, ung dung đi ra từ sau hòn
giả sơn, nhìn thấy tôi, ra vẻ Trái Đất tròn chúng ta lại gặp nhau: “Tứ muội,
muội cũng tới hoa viên dạo chơi đấy à?”
“Đúng
vậy.” Tôi cười khẩy: “Ánh trăng mê người thế này, lại là cái gì chọc người ta,
trằn trọc khó ngủ?”
Ánh mặt
trời mùa đông ấm áp soi sáng hai chúng tôi. Tạ Chiêu Anh cười đến mức rung động
lòng người.
Cửa ải
cuối năm sắp tới, cả nhà phải lên chùa dâng hương tế tổ.
Nhớ lại
đoạn miêu tả khi cả nhà họ Cổ lên chùa dâng hương trong Hồng Lâu Mộng, trùng
trùng điệp điệp lên đường, rồng rắn nối nhau trên đường cái, là một cảnh tượng
hết sức xa hoa. Còn Tạ gia, không biết vì thái phó tính tình đơn giản, hay vì
gia quyến ít người, lên chùa dâng hương cũng chỉ có năm cỗ kiệu, mấy người hầu và
gia đinh mở đường mà thôi, ôn hòa, khiêm tốn xuyên qua thành, đi thẳng tới phật
sơn.
Vạn
phật sơn cách kinh thành mấy dặm, trên núi có hơn mười tòa chùa miếu to to nhỏ
nhỏ, nhưng cũng cố ý khoa trương xưng là Vạn phật sơn. Trong “Sơn xuyên chí”
viết, núi cao vạn trượng, trên núi tràn ngập kỳ hoa dị thảo, có thác đổ suối
chảy, nhiều loại chim chóc, linh thú.
Cụ thể
là thần kỳ thế nào, tôi cũng không biết. Cỗ kiệu thời xưa dù sao cũng không
phải ô tô thời hiện đại, tôi ngồi trong kiệu, bị lắc đến không biết đâu là trời
đâu là đất, trước mắt tối đen, dạ dày giống như đang cuộn lên từng đợt, vừa
giống ngồi trên tàu hải tặc vừa giống đi tàu lượn siêu tốc. Toàn thân tôi co
giật như động kinh, mà đường đi của cổ nhân lại ngoằn nghèo, dài dằng dặc như
Vạn Lý Trường Thành.
Vân
Hương không ngừng vuốt lưng cho tôi: “Tiểu thư cố lên, sắp tới nơi rồi.”
Tôi
không cố được nữa, vén rèm há miệng nôn ra, cháo bánh bao nhân trứng và quả táo
sáng nay mới ăn tất cả đã hóa thành nước a-xít, phun ra.
Nôn
xong, cảm thấy thoải mái hơn một chút. Mở mắt ra, tôi nhìn thấy một bãi nước
bẩn màu vàng bắn lên một tấm gấm vóc màu trúc xanh thượng đẳng, tấm vải gấm kia
chớp lên chớp xuống có tiết tấu.
Ánh mắt
tôi nhìn theo tấm vải kia lên trên, dừng lại ở nụ cười méo mó của Tạ Chiêu Anh.
Bàn tay nắm dây cương của anh ta lộ gân xanh, các đốt ngón tay trắng bệch,
nhưng anh ta vẫn kiềm chế được, không nhào tới bóp chết tôi.
Những
kẻ phong lưu thường thích chưng diện, những kẻ thích chưng diện lại thích sạch
sẽ. Nhưng tôi thật sự vô tội, đường rộng như vậy anh ta không đi, lại cố tình
thúc ngựa lại đây, bị tôi nôn vào cũng là anh ta tự chịu.
Tạ
Chiêu Anh thật vất vả mới khống chế được nét mặt, vươn tay đưa cho tôi một thứ
gì đó, nói: “Ngửi một chút sẽ không choáng váng nữa.”
Tôi
nhận lấy nhìn, là một cái túi thơm tinh xảo, t