chán không dứt kéo dài, tiếng đàn trong trẻo như vậy rất ít khi nghe được, không biết vị phi tần nào trong cung đạt đến tài nghệ bậc này.
Chăm chú nghe liền phát hiện nơi tiếng đàn phát ra không ở trong cung mà còn truyền qua một vườn hoa rồi chắn bởi một bức tường.Người đánh đàn nhất định ở sau bức tường ấy.
Bích Chi và Nguyệt Dung, cả hai người đều nghe đến say mê chợt thấy công chúa chuyển hướng đi đến chỗ bức tường đằng xa kia, vội vàng chấm dứt tâm tư thưởng thức tiếng nhạc mà theo sát ngay sau đó.
Lê Thấn đứng sát vào bức tường, hai tay đặt sau lưng, thảnh thơi đi qua đi lại, hai mắt hơi nhắm, một bộ dáng cực kì hưởng thụ. Nghe thấy tiếng đàn này, trong lòng Lê Thấm cảm thấy thoải mái rất nhiều, nàng khe khẽ hát theo tiếng nhạc rồi khẽ mỉm cười.
Mới rầm rì được nửa câu đột nhiên xung quanh nổi lên một trân gió lớn, một tờ giấy Tuyên Thành(*) từ phía bên kia bức tường bay tới, phủ lên khuôn mặt nhỏ nhắn của Lê Thấm, dính vào mặt nàng.
Lê Thấm hít vào thở ra hai ngụm khí lớn, tờ giấy dính ở chóp mũi cũng theo đó dính chặt hơn. Một tiếng hét vang lên, Lê Thấm tức giận gạt tờ giấy rơi xuống, tay sờ lên mặt. Quả nhiên trên tay dính đầy mực nước, lại nhìn xuống trang giấy, vẽ đúng hai vị môn thần thượng cổ Thần Đồ Uất Lũy(*).
Khuôn mặt phấn nộn của Lê Thấm lem đầy mực nước, mực đen loang lổ cùng màu trắng mịn của làn da khiến khuôn mặt của nàng trông rất buồn cười. Lửa giận trong lòng Lê Thấm bùng cháy.
Bích Chi và Nguyệt Dung che miệng hô nhỏ một tiếng, Bích Chi vội vàng cầm khăn, la lên:
”Công chúa, nô tì giúp người lau mặt.”
“Không cần.” Lê Thấm thản nhiên nói, tay nắm chặt khăn, vò nó trong lòng bàn tay, con ngươi tối tăm nhìn chằm chằm bức tường trước mặt rồi vụt sáng lóe lên. Bên tường tiếng đàn không những không ngừng lại mà còn cao vút hơn.
“Bích Chi, Nguyệt Dung, hành cung bên kia nhìn rất lạ mắt, các ngươi có biết ai ở trong đó không?!”
Lê Thấm che miệng hỏi, bức họa trong tay bị ngón tay ngọc tinh xảo vạch ra vài nếp nhăn, diện mạo hai vị môn thần uy vũ vì thế càng trở nên dữ tợn hơn nhiều.
“Hồi công chúa, hành cung này vốn là nơi tiếp đón sứ thần ngoại quốc, khung cảnh yên tĩnh, sau hoàng thượng đặc biệt ban cho quốc sư, quốc sư tự mình đặt lại tên, gọi là Tuyệt Trần cung.” Nguyệt Dung đáp.
Thấy công chúa thoáng ngẩn ra, Bích Chi lại bổ sung: “ Phía tây Tuyệt Trần cung giáp với hậu cung. Bên kia bức tường chỉ là một góc nhỏ ở phía tây, phải nói là rất nhỏ, rất ít người đi qua nơi này, công chúa cảm thấy lạ mắt cũng là bình thường.”
Không chỉ vậy, Kính Nhân đế còn hạ lệnh không cho người bên ngoài tùy ý đến gần Tuyệt Trần cung, để tránh quấy nhiễu tiên nhân.
Khóe miệng Lê Thấm cong lên, không nghĩ tới lại là hắn.
Muốn thóat li trần thế, làm một cao nhân cái gì cũng không quản không quan tâm sao? Ta lại không cho ngươi được như ý đấy. Lê Thấm nhắm mắt thầm nghĩ.
Lê Thấm bước lên trước hai bước, mặt đối mặt với bức tường dày phía trước, hét to: “Quốc sư đại nhân quả thật có nhã hứng, tiếng đàn này du dương dễ nghe, làm cho người ta cảm thấy thật thư thái như đang bước vào cõi tiên. Chỉ đáng tiếc___” Âm điệu Lê Thấm ngân cao “Hay thì rất hay nhưng lại có tì vết, thật sự đáng tiếc.”
Tiếng đàn bên tường chợt im bặt.
Xung quanh yên ắng lạ thường, trên cao ngẫu nhiên rơi xuống vài đóa hoa, đính vào vạt áo, mùi hoa thoang thoảng thấm vào trong xiêm y.
Hai ngươi Bích Chi và Nguyệt Dung sững sờ đứng tại chỗ, vẻ mặt kinh ngạc. Mọi người đều nói công chúa Lê Thấm mỹ mạo nổi danh thiên hạ kỳ thực chỉ như cái gối thêu hoa, ngoài khuôn mặt khuynh quốc ra thì chẳng còn gì nữa, mấy lời này đều không phải tin đồn vô căn cứ.
Công chúa Lê Thấm mặc dù có danh sư trong cung chuyên môn chỉ dạy nhưng thứ nào công chúa cũng chỉ dừng lại ở mức “gà mờ”. Nói dễ nghe là cầm kỳ thi họa đều chỉ biết sơ qua, nói khó nghe thì chính là cầm kỳ thi họa thứ nào cũng không thông. Vậy mà, công chúa “gà mờ”lại cao giọng chê bai quốc sư “thạo cầm”, Bích Chi và Nguyệt Dung sững sờ kinh hãi.
***
(*) cầm sắt cùng minh:vợ chồng hòa hợp như đàn sắt đàn cầm hòa vào nhau.
(*) rường cột:cột ngắn, phía trên đỡ lấy xà nhà.
(*)Giấy Tuyên Thành:Khi nói đến giấy dùng trong thư pháp (và cả quốc họa), người ta sẽ nhắc tới ngay giấy Tuyên. Giấy Tuyên (hay còn gọi là Xuyến chỉ) bắt nguồn từ huyện Kinh, tỉnh An Huy (vốn thuộc Ninh Quốc Phủ) , đã có lịch sử tới 1500 năm.
Giấy Tuyên ra đời vào đời Đường. Vùng sản xuất chính là huyện Kinh và cả các vùng phụ cận như Tuyên Thành, Thái Bình (nay thuộc quận Hoàng Sơn, thành phố Hoàng Sơn).
Đến đời Tống, toàn bộ ngành sản xuất giấy dần dần tập trung ở huyện Kinh. Vì vùng này thuộc địa phận quản hạt của Ninh Quốc Phủ, chính quyền đóng tại Tuyên Thành, Tuyên Thành lại là nơi tập trung phân chia buôn bán giấy, cho nên người ta gọi loại giấy này là giấy Tuyên.
Giấy Tuyên được chế tạo từ Thanh Đàn có tính chất dai, phẳng mịn nhưng không trơn, trắng muốt như ngọc, vân giấy trong suốt, nét mực rõ ràng, vò gấp không nát, sức hút nước nhanh, không biến chất trong thời gian dài. Vì giấy