c thím và em họ lau rửa tay chân cho tôi, họ chỉ quên thêm lá bưởi vào nước. Họ chải tóc tôi và ghim lên đó những chiếc trâm ngọc trâm vàng mà quên phủ tấm khăn trùm đầu lên. Họ thoa phấn trắng lên mặt tôi mà không màng tới các lọ son sẽ làm má môi tôi ửng lên. Họ đặt đóa mẫu đơn đã ép khô vào tay tôi. Họ mặc cho tôi chiếc váy lót bằng lụa trắng in kinh Phật. Với rất nhiều nước mắt quanh mình, tôi không đủ sức chỉ ra rằng họ đã quên buộc tim lợn vào chiếc váy lót.
Tiếp theo họ sẽ giúp tôi mặc váy cưới. Tôi mỉm cười với họ. Tôi sẽ nhớ họ lắm. Tôi khóc, đó là việc nên làm. Tôi đã ích kỷ và bướng bỉnh giấu đi công trình của mình trong khi thời gian ở cùng gia đình không còn nhiều nữa. Nhưng trước khi họ mang áo váy cưới ra, thím hai gọi những người đàn ông trở vào. Tôi dõi theo đám gia nhân khi họ tháo cánh cửa khỏi khung và mang nó tới cạnh giường. Họ nhẹ nhàng nâng tôi lên cánh cửa. Cả một bộ rễ khoai sọ được đặt quanh tôi làm biểu tượng cho khả năng sinh nở. Trông tôi như một vật hiến tế thần linh vậy. Có vẻ như tôi sẽ không phải đi bộ tới kiệu hoa. Nước mắt biết ơn từ khóe mắt tôi chảy xuống thái dương và vào trong tóc. Tôi không ngờ mình lại có thể hạnh phúc đến thế.
Người ta khênh tôi xuống lầu. Một đám rước tuyệt đẹp kéo dài phía sau khi chúng tôi di chuyển dọc theo các hành lang có mái che. Chúng tôi phải tới từ đường để tôi có thể cảm tạ tổ tiên Trần gia đã che chở, song chúng tôi không dừng lại ở đó. Chúng tôi tiến thẳng đến chiếc sân trong ngay trước An Tọa Đường ở phía trước cổng chính. Người ta đặt tôi xuống và bước sang bên cạnh. Tôi nhìn phong hỏa môn và nghĩ, chỉ còn một lúc nữa thôi. Cánh cổng kia sẽ mở ra. Tôi bước vào kiệu hoa. Nói lời từ biệt lần cuối với cha mẹ rồi tới nhà mới của mình.
Lần lượt từng người trong gia tộc, từ cha mẹ tới những gia nhân thấp hèn nhất, đi ngang qua tôi thi lễ. Rồi lạ lùng và kỳ quặc là họ bỏ tôi lại một mình. Trái tim tôi nguôi dịu. Xung quanh là những thứ thuộc về tôi: lụa và đồ thêu chất đầy trên ngực tôi, gương lược, chăn gối và y phục nữa. Giờ là khoảng thời gian sân vườn hoang tàn và lạnh lẽo trong năm. Tôi không nghe thấy tiếng pháo nổ. Tôi không nghe thấy tiếng chiêng hay giọng người xướng lên trong các nghi lễ. Tôi không nghe thấy tiếng những phu kiệu sẽ đưa tôi về nhà chồng. Những ý nghĩ âu sầu xổ tung, đánh bẫy tôi như đám dây nho rối. Cùng với nỗi đau buồn và hoảng sợ, tôi nhận ra rằng không phải mình sắp đến với Ngô Nhân. Theo tục lệ dành cho những cô con gái chưa chồng, gia đình đã mang tôi ra, để tôi chết bên ngoài.
"Mẹ ơi, cha ơi," tôi gọi nhưng giọng yếu ớt đến nỗi không thể nghe được. Tôi cố cử động nhưng tay chân tôi vừa quá nặng vừa quá nhẹ vô phương cựa quậy. Tôi nắm chặt bàn tay và cảm thấy đóa mẫu đơn tan vụn thành bụi.
Giờ là tháng Chạp, trời lạnh buốt nhưng tôi vẫn sống hết ngày và đêm đó. Khi ánh hồng bắt đầu loang trên bầu trời, tôi cảm thấy mình như viên ngọc trai đang chìm dưới những con sóng. Trái tim tôi như viên ngọc đang tan vỡ. Tâm trí tôi giống như phấn đang phai, hương đang tan, mây đang giạt đi. Sinh lực của tôi trở nên mỏng manh như thứ lụa nhẹ nhất. Khi trút hơi thở cuối cùng, tôi nghĩ tới những dòng trong bài thơ cuối cùng mình viết:
Dùng dằng nửa tỉnh nửa mơ
Luyến hoa, hồn mộng lập lờ dưới trăng.
Và rồi trong chốc lát tôi bay lên và vượt qua hàng ngàn dặm trên bầu trời.
Tôi chết vào giờ dậu ngày mùng bảy tháng chạp năm Khang Hy thứ ba. Chỉ còn năm ngày nữa là đến hôn lễ. Trong những khoảnh khắc đầu tiên của cái chết, nhiều việc xảy ra trong vài tuần lễ cuối cùng trở nên sáng rõ. Hiển nhiên là tôi không có ý niệm rằng mình sắp chết, nhưng mẹ đã hiểu điều đó khi bà vào buồng tôi lần đầu tiên sau một thời gian dài. Khi tới Xuân Đình, các em họ, các thím, những người thiếp đã cố ép tôi ăn vì nhận thấy tôi đã tự bỏ đói mình. Trong những ngày cuối cùng, tôi đã bị việc viết lách ám ảnh y hệt nàng Lệ Nương bị ám ảnh bức chân dung tự họa. Tôi đã nghĩ rằng các bài thơ của mình nảy nở từ tình yêu, nhưng từ trong sâu thẳm chắc hẳn rằng tôi đã biết mình sắp chết. Trên tất cả, điều mà cơ thể biết và điều trí óc chọn để tin tưởng là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Cha tới để đưa tôi đóa mẫu đơn vì tôi sắp chết và khuôn phép không thành vấn đề nữa; tôi đã sung sướng phát hiện ra rằng mình sắp lấy chàng thi nhân ấy, nhưng đã quá cận kề cái chết nên không còn có thể phục hồi.
Rèm trong buồng tôi được gỡ xuống, không phải để tôi đem đến nhà mới mà bởi chúng trông giống lưới đánh cá và người thân không muốn tôi tái sinh vào kiếp cá. Cha kể với tôi về các chú vì ông muốn tôi mang thông điệp tới họ ở thế giới bên kia. "Một ngày nào đó con được gặp họ," ông nói. Ông không thể thẳng thắn hơn thế, nhưng tôi đã không hiểu. Người nhà đã đặt rễ khoai sọ quanh người tôi. Khoai sọ được tân nương mang theo tới nhà mới nhưng nó cũng được cúng cho người chết để cầu cho trong nhà sinh con trai, cháu trai. Theo truyền thống, con gái chưa chồng được đem ra ngoài khi "chỉ còn một hơi thở nữa". Nhưng làm sao người ta đoán biết được điều này? Nhưng c
