ng nó là sự kết nối tinh thần thông qua đụng chạm thể xác. Tôi bảo Trắc viết:
Lệ Nương nói, "Hồn ma có thể bất cẩn với đam mê nhưng con người phải tỏ ra đúng mực." Không thể và không nên coi Lệ Nương là hư hỏng vì đã mây mưa với Mộng Mai trong mộng. Nàng không thể thụ thai trong mộng cũng như không thể thụ thai khi là một hồn ma. Mây mưa trong mộng không gây hậu quả, không đòi hỏi trách nhiệm và không khiến người ta hổ thẹn. Mọi cô gái đều có những giấc mộng như thế. Điều này không vấy bẩn họ, ngược lại là khác. Một cô gái chiêm bao thấy chuyện mây mưa là đang tự chuẩn bị để làm trọn chữ tình. Như Lệ Nương nói, "Hứa hôn tạo ra người vợ, trốn nhà đi chỉ tạo ra một người tỳ thiếp." Giữa chồng và vợ, chuyện mà một số người coi là dâm đãng trở nên tao nhã.
Nhưng tình không chỉ giới hạn với chồng và vợ. Tình mẫu tử thì sao? Tôi vẫn nhớ mẹ và mong chờ bà. Bên kia hồ, chắc bà cũng đang nhớ tôi. Đó không phải là tình sao? Tôi sai Trắc lật lại cảnh "Mẹ và con đoàn tụ", lúc Lệ Nương, nay đã sống lại, tình cờ gặp mẹ nàng tại một quán trọ ở Hàng Châu. Nhiều năm trước, tôi đã coi cảnh này chỉ là một sự xoa dịu trong tất cả những trận chiến và mưu đồ chính trị dồn dập ở phần cuối vở kịch. Giờ đọc lại, tôi bị kéo vào thế giới của chữ tình, một thế giới nữ tính, trữ tình và rất giàu cảm xúc.
Đỗ phu nhân và Xuân Hương kinh hoảng khi thấy Lệ Nương hiện ra từ bóng tối, tin rằng họ đang nhìn thấy ma. Lệ Nương khóc trong khi hai người đàn bà kia lùi lại với vẻ sợ hãi và ghê tởm. Thạch đạo cô bước vào phòng với một cây đèn. Mau chóng nhận định được tình cảnh ấy, bà đỡ lấy cánh tay Đỗ phu nhân. Hãy để ánh đèn giúp vầng trăng soi tỏ gương mặt con gái phu nhân. Từ bóng tối của sự nhầm lẫn, Đỗ phu nhân thấy rằng cô gái trước mặt thật sự là con gái bà chứ không phải hồn ma. Bà nhớ tới nỗi đau buồn khủng khiếp mình cảm thấy khi Lệ Nương qua đời; giờ đây bà phải vượt qua nỗi khiếp sợ một giống loài thuộc về thế giới bên kia. Tình mẫu tử của bà sâu sắc đến nhường ấy và nó thậm chí còn hơn thế nữa.
Tôi cầm tay Trắc điều khiển nó viết:
Khi tin rằng kẻ ở trước mặt mình là con người, Đỗ phu nhân không chỉ thừa nhận Lệ Nương là người mà còn trả lại địa vị của nàng ở thế giới con người.
Với tôi, đây là định nghĩa thuần khiết nhất về tình mẫu tử. Dù mọi đau đớn, dù mọi thống khổ, dù mọi bất đồng giữa các thế hệ, người mẹ cho đứa con vị trí của nó trên thế gian, làm con gái và làm người vợ, người mẹ, người bà, người thím và người bạn trong tương lai.
Trắc cùng tôi viết, viết hoài viết mãi. Đến mùa xuân, sau sáu tháng ám ảnh, cuối cùng tôi đã mệt lử. Tôi cho rằng mình đã viết mọi thứ mình có thể viết về tình yêu. Tôi nhìn sang người chị em chung chồng. Mắt nó sưng lên vì mỏi mệt. Tóc nó rũ rượi xơ xác. Da dẻ nó xanh xao vì công việc của chúng tôi, vì những đêm không ngủ và vì làm vui lòng nhà chồng. Tôi phải thừa nhận vai trò của nó trong công trình của tôi. Tôi thổi nhè nhẹ vào nó và nó tự động cầm lấy bút.
Trên hai trang giấy trắng ở trước phần nội dung kịch, tôi giúp Trắc thảo một bài ngắn giải thích phần bình chú đã được viết ra như thế nào, loại đi những gì lạ lẫm và không chắc có thực ở cõi trần gian.
Từng có một thiếu nữ tương tư yêu thích vở kịch Mẫu Đơn Đình. Thiếu nữ ấy tên là Trần Đồng, đã được đính ước với thi sĩ Ngô Nhân, và trong đêm nàng đã viết những suy nghĩ của mình về tình yêu vào lề cuốn sách. Sau khi nàng qua đời, Ngô Nhân thành thân với một thiếu nữ khác. Người vợ hai bắt gặp bản kịch với những lời bình văn nhã của người đọc trước. Nàng bị thôi thúc hoàn thành công việc mà người chị em chung chồng đã bắt đầu song nàng không có phần hai của vở kịch. Khi chồng nàng trở về nhà cùng với bản đầy đủ của vở kịch, nàng uống đến say khướt vì hạnh phúc. Về sau cứ mỗi khi Ngô Nhân và Đàm Trắc cùng thưởng hoa, chàng lại trêu nàng về lần đó, nàng đã uống quá nhiều, thiếp đi và ngủ suốt ngày đến tận hôm sau. Đàm Trắc siêng năng và chu đáo. Nàng hoàn thành việc bình chú và quyết định tặng nó cho những người ôm ấp lý tưởng về chữ tình.
Đây là một lời giải thích đơn giản, rõ ràng và đa phần đúng sự thật. Giờ tất cả những gì tôi cần là để Nhân đọc nó.
Tôi quen với việc Trắc tuân lệnh mình đến nỗi không để ý lúc nó lôi bản tập một gốc của tôi ra sau khi Nhân đã ra khỏi nhà đến gặp bạn bè tại một quán trà bên bờ hồ. Tôi không hề nghĩ ngợi chút gì khi nó mang cuốn sách ra ngoài. Tôi tin rằng nó sắp đọc lại những gì tôi viết và nghĩ về những điều tôi đã dạy nó về tình yêu. Tôi thậm chí không để tâm khi nó qua cây cầu hình chữ chi bắc trên mặt nước dẫn vào ngôi đình hóng mát giữa ao. Dù trong hoàn cảnh nào thì tôi cũng không thể lái mình qua những góc nhọn của cây cầu. Mặc dù vậy, tôi không thấy có nguy cơ gì. Tôi ngồi trên một bồn hoa gần bờ ao, dưới gốc cây mai không chịu trổ lá đơm hoa kết trái, chuẩn bị thưởng thức khung cảnh thanh bình. Giờ là tháng thứ năm của năm Khang Hy thứ mười một và tôi nghĩ những ngày cuối xuân mới thanh bình làm sao, khi cùng Trắc, một người vợ xinh đẹp dù có làn môi mỏng, thưởng ngoạn những bông sen trên
