bao khuôn viên vào khu nhà của chúng tôi. Tôi thậm chí còn nghe thấy những giọng nói bên ngoài, một người bán dạo rao bán đồ dùng làm bếp, cuộc cãi vã giữa hai người chèo thuyền, tiếng cười êm ái của những người phụ nữ trên một du thuyền. Nhưng tôi chưa từng trông thấy họ.
Tôi vào từ đường, nơi chúng tôi gìn giữ bài vị của tổ tiên. Bài vị, những mảnh gỗ nhỏ khắc tên ông bà tổ tiên chúng tôi bằng chữ dát vàng, được treo trên tường. Đây là ông bà nội tôi, các ông trẻ, các bà cô, vô số những anh chị em họ rất xa, những người đã sinh ra, sống và qua đời trong Trần phủ. Khi chết, linh hồn họ chia thành ba phần để tới nhà mới của họ ở cõi âm, phần mộ và bài vị. Nhìn những tấm bài vị ấy, tôi không chỉ có thể lần ngược gia phả hơn chín thế hệ mà còn có thể cầu khấn phần linh hồn ngự trong đó phù hộ cho mình.
Tôi đốt nhang, quỳ xuống nệm, nhìn lên hai bức vẽ chân dung tổ tiên treo phía trên bàn thờ. Bên trái là ông nội tôi, một học sĩ của triều đình, người đã mang lại danh giá, sự bảo đảm và giàu có cho gia tộc. Trong tranh, ông ngồi trong tấm áo thụng, chân giang ra và một tay cầm chiếc quạt xoè rộng. Khuôn mặt ông nghiêm nghị, vùng da quanh mắt nhăn lại vì từng trải và lo nghĩ. Ông qua đời khi tôi lên bốn tuổi và ký ức của tôi về ông là một người thích tôi im lặng và ít khoan dung với mẹ tôi hay với những phụ nữ khác trong gia tộc.
Phía bên phải ban thờ, trong một cuộn giấy dài khác là mẹ của cha tôi. Bà cũng mang một vẻ mặt nghiêm khắc. Bà có vị thế rất đáng tôn kính trong gia tộc và trong vùng chúng tôi, như một người hy sinh vì nghĩa trong cuộc Đại biến. Vào những năm trước khi bà hy sinh, ông nội tôi giữ chức Công bộ Thị lang ở Dương Châu. Bà nội đã rời Trần phủ ở Hàng Châu này và đi bằng thuyền, rồi đi kiệu trong hai ngày tới sống cùng ông nội tại Dương Châu. Không nhận thấy thảm họa sắp đến, cha mẹ tôi tới Dương Châu thăm ông bà nội. Chẳng bao lâu sau khi họ tới, quân xâm lược Mãn Châu đã đến.
Bất cứ khi nào tôi thử nói chuyện với mẹ về thời kỳ đó, bà luôn bảo, "Con không cần biết về nó." Một lần, hồi tôi năm tuổi, tôi đã hỗn xược đến mức dám hỏi xem mẹ có nhìn thấy bà nội chết không. Mẹ tát tôi mạnh đến nỗi làm tôi ngã lăn ra đất. "Đừng có bao giờ nói gì với mẹ về ngày đó." Bà không bao giờ đánh tôi nữa, ngay cả trong khi tôi phải bó chân, và tôi cũng không bao giờ hỏi mẹ về bà nội nữa.
Tuy vậy, những người khác lại cầu khấn bà nội gần như hàng ngày. Thành công lớn nhất mà một phụ nữ có thể đạt tới trong đời là trở thành một quả phụ tiết hạnh, người sẽ không chấp nhận một cuộc hôn nhân thứ hai, ngay cả khi điều đó có nghĩa là mất cả mạng sống của mình. Nhưng bà nội đã làm một việc thậm chí còn phi thường hơn. Bà chọn cách quyên sinh còn hơn là thất thân với những tên lính Mãn Châu. Bà là một tấm gương về tiết hạnh mẫu mực, đến nỗi khi người Mãn Châu lập nên triều Thanh, họ đã chọn bà để tôn vinh trong những truyện kể và cuốn sách dành cho phụ nữ đọc nếu họ mong muốn hoàn thiện bản thân ở vai trò làm vợ làm mẹ và để phổ biến các tiêu chuẩn chung về lòng kiên trung và hiếu thảo. Người Mãn Châu vẫn còn là kẻ thù của chúng tôi, nhưng họ đã dùng bà nội tôi cùng những phụ nữ khác đã quyên sinh trong thảm họa để giành được sự tôn trọng của chúng tôi và đem lại trật tự cho các khuê phòng.
Tôi đặt đồ cúng là những trái đào trắng hoàn mỹ lên bàn thờ bà nội.
"Cháu có nên gặp chàng hay không ạ?" Tôi rì rầm, hy vọng rằng bà sẽ chỉ dẫn cho mình. "Hãy phù hộ cho cháu, lạy bà nội, hãy phù hộ cho cháu." Tôi dập trán xuống sàn thi lễ, ngước nhìn lên bức chân dung để bà thấy sự thành tâm của tôi và lại dập đầu xuống. Tôi đứng lên, vuốt phẳng váy áo và rời khỏi từ đường, những nguyện ước của tôi bồng bềnh theo làn khói hương bay tới bà nội. Nhưng tôi không cảm thấy dứt khoát hơn về điều mình nên làm so với lúc bước vào đây.
Liễu Nhi đợi tôi ở ngoài cửa.
"Phu nhân bảo rằng tiểu thư đã bị muộn bữa điểm tâm ở Xuân Đình," nó nói. "Tiểu thư đưa tay đây, em sẽ đưa tiểu thư đến đó."
Nó là a hoàn của tôi nhưng tôi là người phải tuân lệnh.
Lúc này các hành lang đã rộn rịp hối hả. Trần phủ có chín trăm bốn mươi nhân khẩu: hai trăm mười người trong số đó là họ hàng ruột thịt của tôi, ba trăm ba mươi người là tỳ thiếp cùng con cái họ, tất cả đều là con gái, và bốn trăm người khác là những người nấu bếp, làm vườn, nhũ mẫu, a hoàn và đại loại thế. Giờ đây, trong lễ Thất Tịch, chúng tôi còn có nhiều khách khứa hơn nữa. Với nhiều người như vậy, trang viên nhà chúng tôi được thiết kế để mỗi người đều ở nơi thích hợp dành cho mình. Vì vậy sáng nay, cũng như mọi buổi sáng khác, mười tỳ thiếp cùng hai mươi ba cô con gái của họ ăn tại sảnh riêng. Ba chị em họ, đang ở thời điểm quyết định trong quá trình bó chân, bị giam tại buồng mình. Còn lại, những người phụ nữ ở Xuân Đình ngồi theo thứ bậc. Mẹ tôi, là dâu trưởng, có một vị trí danh dự trong phòng. Bà và bốn người em dâu ngồi ở một bàn, năm cô em họ còn nhỏ ngồi ở một bàn khác cùng các nhũ mẫu của chúng, trong khi ba cô em họ trạc tuổi tôi và tôi có một bàn riêng. Khách của chúng tôi