uen với một cô gái, nhờ vậy mình sẽ hiểu nơi đó hơn. Tôi đã ăn bánh
khoái Huế rất ngon. Tôi muốn em giúp tôi hiểu Huế thêm một chút nữa được
không?
Cô gái nhìn thẳng vào đôi mắt tôi. Cũng may vì vội vã khi ra Huế, tôi đã bỏ
quên đôi kính cận một độ của mình ở Sài Gòn nên nhìn đôi mắt tôi lờ đờ như đôi
mắt cá ươn rất "vô tư", cô gái đã thương hại gật đầu.
Buổi tối mùa hè, Huế đã mát nhờ những hàng cây hai bên đường rì rào tiếng lá.
Tôi chở Diệu Liên trên chiếc xe Honda mượn của Tường. Em ngồi sau chỉ đường bằng
cách vỗ vai phải, vai trái của tôi và tôi sẽ quẹo phải hay quẹo trái.
Nhờ em tôi mới biết hồ Tịnh Tâm với ngôi nhà ngồi hóng mát bị sụp đổ một bên,
không còn nguyên vẹn như trong bức tranh vẽ treo ở quán em. "Đường phượng bay"
xanh rì bóng lá vì mùa hoa phượng đã tàn. Bánh cuốn ở Kim Long khác hẳn bánh
cuốn ở Sài Gòn. Và chè thịt heo quay ngon hơn chè sâm bổ lượng ở Chợ Lớn.
Tôi hỏi: Em hãy chỉ tiếp cho tôi biết nơi nào bán cơm hến, bánh ướt, chè
bắp?
Em che miệng cười khúc khích. Tôi đưa cuốn sổ tay cho em và em viết: Ông tham
ăn quá. Những món ăn ngon, ông ăn cùng một lúc, chúng cũng sẽ hết ngon.
Tôi nói: Nhưng ngày mai tôi phải về Sài Gòn rồi. Làm sao tôi có thể thưởng
thức những món ăn kia?
Em viết: Chúng sẽ mãi còn ngon khi ông còn háo hức muốn ăn?
Tôi nói: Thôi bây giờ chúng ta đi uống cà phê. Tôi muốn biết cà phê ở Huế
ngon cỡ nào.
Em gật đầu và tôi tiếp tục chở em đi. Cầu Tràng Tiền đang sửa chữa lại, em
chỉ tôi chạy xe qua cây cầu mới. Chúng tôi vào một quán cà phê lộ thiên ở sát bờ
sông Hương, ngay phía trước trường Quốc Học.
Tôi chọn một cái bàn đặt ngay dưới bóng đèn điện sáng choang. Chẳng phải tâm
hồn tôi ưa thích sự trong sáng mà vì ngồi ở nơi sáng sủa, tôi mới có thể đọc
được những câu em viết trả lời.
Tôi gọi cho em một ly đá chanh và cho tôi ly cà phê đen. Rất bất ngờ tôi được
nghe lại giọng ca Tuấn Ngọc với bài "Chiều một mình qua phố" của Trịnh Công Sơn
ở quán cà phê này. Diệu Liên mấy máy đôi môi hát theo. Tôi hỏi:
- Em cũng biết bài hát này à?
Diệu Liên gật đầu và môi em tiếp tục mấy máy. Tôi buồn muốn khóc khi thấy em
say sưa hát một bài ca không thành lời. Im lặng là vàng, đúng vậy. Nhưng im lặng
mãi sẽ là đất đá. Tôi không muốn em là đất đá. Tôi thầm cầu mong cho em một lần
được nghe giọng hát của chính mình. Bài hát dứt, môi em vẫn còn run run vì xúc
động hay vì lời ca "ngoài kia không còn nắng mềm, ngoài kia ai còn biết
tên?"
Không ngăn được tò mò, tôi hỏi em câu chuyện người ta đồn về gia đình em mà
Tường đã kể cho tôi nghe lúc trưa.
- Chuyện đó có thật không?
Em gật đầu. Ôi "ba tấc đất" của người chết đã làm khổ người sống quá nhiều!
"Giàu sang chưa chín một nồi kê". Tại sao người ta bắt im lặng mãi? Tự nhiên tôi
nổi sùng nói:
- Em hãy cho tôi biết mộ ông nội em nằm ở đâu? Tôi sẽ thuê người ta dời mộ để
em nói được. Em cần phải nói, phải hát.
Em khẽ nắm tay tôi lắc lắc. Rồi em cúi xuống viết vào cuốn sổ tay tôi để trên
bàn: Ông cần em phải nói, ông mới hiểu? Sông Hương có nói chi mô mà người ta
cũng hiểu nó.
Viết xong, em ngẩng lên nhìn dòng sông Hương lấp lánh ánh trăng. Mặt nước
phẳng lặng không gợn sóng. Gió từ mặt sông thổi lên mát rượi. Tôi nhìn vào đôi
mắt em đang mở lớn. Đôi mắt cũng lấp lánh ánh trăng nhưng có nói chi mô. Đôi mắt
đó câm hay tâm hồn tôi điếc?
Huế 7-1993
Đoàn Thạch Biền
Tôi đã đi theo nhà ảo thuật Ali K3 trình diễn ở một số tỉnh miền Nam. Anh
không phải là một nhà ảo thuật tài ba nhưng anh nói chuyện rất tài ba. Khi biết
tôi rất mê ảo thuật và năn nỉ anh cho theo học nghề, anh nói: Cậu biết phần "ảo"
được rồi, biết phần "thuật" cậu sẽ không còn mê ảo thuật nữa. Vả lại, cậu đã
rành làm trò ảo thuật với chữ nghĩa rồi, học thêm nghề này làm chi. Tôi không
muốn từ bỏ một đam mê đẹp nên đành không học nghề ảo thuật nữa.
Truyện này đáng lẽ có tên "Tình yêu ảo thuật" nhưng như thế thì thật dài
dòng. Tôi rút gọn là "Tình ảo" cho nó có vẻ hư... ảo.
*
* *
Tình cờ đi ngang qua rạp hát thị xã, tôi thấy tấm bảng quảng cáo vẻ hình một
người đàn ông đang cưa một cái hòm, có đầu và hai chân của một cô gái thò ra.
Phía trước có dòng chữ: Đệ nhất ảo thuật gia Z.30. Tôi bủn rủn tay chân. Không
phải hình vẽ ghê rợn đó, mà vì lâu lắm tôi mới có dịp xem ảo thuật.
Tôi vốn mê ảo thuật từ nhỏ. Năm tám tuổi tôi đã trốn nhà đi theo làm đệ tử
một ông thầy diễn trò ảo thuật ở Sài Gòn. Học được 4 tháng, ba tôi tìm được, bắt
về, đánh tôi một trận bầm mình. Lần đó, nếu ba để tôi tiếp tục theo học, chắc
tôi đã trở thành Đệ nhất ảo thuật gia của thị xã này. Bởi lòng đam mê của tôi
lúc đó đối với ảo thuật là một đam mê lớn. Làm bất cứ việc gì với đam mê lớn,
tôi tin người ta cũng sẽ thành công. Không vĩ đại thì cũng nhỏ bé.
Ba tôi bắt tôi học chữ, học đánh máy, học vâng lời cấp trên để trở thành một
công chức gương mẫu. Nhưng ngọn lửa đam mê ảo thuật vẫn âm ỉ cháy. Thật đáng
tiếc chương trình biểu diễn ảo thuật đã ngày càng hiếm. Khán giả ngày nay tinh
khôn hơn ngày xưa nên khó "mà mắt" họ. Trò ảo thuật s