ữ nước được, chỉ nắng một thời gian đã khô nứt nẻ. Đến mùa mưa, nước lũ chảy như thác kéo theo lớp mầu bên trên đổ xuống hằng hà sa số
khe đá dưới chân núi. Không có sông lớn điều hòa việc canh nông, chỉ có
một cái đầm độc nhất lại quá hẹp không đủ chứa nước cấy lúa.
Vấn đề chính rõ ràng bày ra trước mắt:
trị thủy. Nhưng vấn đề này một hai người không làm được, hay nếu có làm
cũng chỉ hạn hẹp. Muốn mang lại sinh kế cho cả một làng hay một khu vực, phải có sự hợp tác của số đông. Thạch Đạt Lang nhìn rõ viễn tượng ấy
nên quyết định thuyết phục dân chúng tham dự vào một kế hoạch quy mô.
Nhưng thuyết phục thế nào ?
Đã nhiều năm nay, hắn quan niệm kiếm đạo theo một khía cạnh khác với
quan niệm của đa số người đương thời. Đối với hắn, lấy sự trau dồi kiếm
thuật làm mục đích tối hậu thì quá phù phiếm, vì lưỡi kiếm tự nó không
giải quyết được gì. Trong tay một kẻ dù tài giỏi đến đâu nhưng không lý
tưởng, lưỡi kiếm cũng chỉ là bạo lực. Kiếm đạo phải có mục đích hướng
dẫn con người đến sự quân bình của tâm hồn, đến hạnh phúc. Và lưỡi kiếm
chỉ là một phương tiện để tìm sự quân bình ấy mà thôi. Hai năm trước,
Thạch Đạt Lang đinh ninh nếu muốn áp dụng lý tưởng ấy tất phải có quyền
hành, cho nên rắp tâm tìm minh chúa để phục vụ. Nhưng ngày nay, trong
chốn đồng không mông quạnh này, quyền lực hay địa vị gì cũng vô dụng.
Hắn phải tìm cách thuyết phục, vì thuyết phục chính là bước đầu của mọi
công cuộc lãnh đạo. Từ nay, lưỡi gươm sắc đeo bên sườn, hắn sẽ dùng để
bảo vệ người cô thế mà không làm cho họ sợ.
Những ngày sau đó, khí trời chưa lạnh, Thạch Đạt Lang và đồ đệ chặt cây, đào rễ, cuốc đất, be bờ, làm việc cực nhọc từ sáng đến chiều, có hôm
tận tối mịt mới về nghỉ.
Công khó của hai thầy trò không phải là không có kết quả:
một khoảnh đất rộng chừng năm sào đã thành hình, tạm bằng phẳng để sẵn sàng đón nhận hạt giống.
Dân ở xa mang sản vật đến xóm tiều bán hoặc cư dân trong vùng theo đường mòn xuống núi dừng lại tò mò nhìn hai người. Họ kháo nhau:
- Gã này điên ! Chắc mới ở đâu tới chứ ai cũng biết đất này mà trồng cấy gì được !
- Phí công vô ích.
- Thằng bé kia hình như là con Hạo ông, trước ở khu dưới, sao bây giờ lại tới đây ?
Một hôm có kẻ đến tận chỗ Thạch Đạt Lang làm, khuyên nhủ:
- Đất này cằn cỗi, giồng gì cũng uổng công thôi. Nếu có hoa màu thì chúng ta đã chẳng bỏ hoang.
Thạch Đạt Lang chỉ cười. Khác với những nông dân kia, hắn tin hắn làm được.
Nếu thành công thì đây là một chứng cớ hiển nhiên:
ý chí con người đã thắng mọi trở lực và bằng thành quả này, hắn sẽ
thuyết phục dân làng cùng hợp tác để thực hiện một công cuộc quy mô hơn.
Thấy bảo không được, dân vãng lai chẳng ai thèm khuyên nhủ nữa. Họ chế
nhạo hắn, gọi thầy trò hắn là những thằng ngốc. Thạch Đạt Lang không để
tâm, nhưng Hạo Nhiên tức lắm. Bữa kia, nó nhặt đá định ném. Hắn trừng
mắt:
- Hạo Nhiên ! Làm vậy ích gì ? Nếu không biết tự chế, ta không nhận con làm đồ đệ nữa !
Mặt thằng bé đỏ bừng. Nó vất hòn đá đi, nhưng đến bên gốc cây bưng mặt tấm tức.
Thạch Đạt Lang nhìn nó, quay đi khẽ thở dài:
Tội nghiệp ! Nó cũng như ta, đơn độc trước bao khó khăn. Nó còn nhỏ tuổi quá !
Như thông cảm nỗi buồn của đứa trẻ, trời bỗng đổi khác. Gió thổi, cây
rung ào ào, mây vần vũ tựa sắp có dông lớn. Bầu trời càng lúc càng tối,
vài giọt mưa đã bắt đầu rơi lộp bộp trên những tàu lá to mọc xập xè dưới đất.
Thạch Đạt Lang thu xẻng cuốc vác lên vai, gọi Hạo Nhiên rồi rảo bước về
lều. Vừa đến nơi, mưa đổ như trút. Một lằn chớp xẹt ngang, ngoằn ngoèo
sáng rực, tiếp theo là tiếng sét nổ long trời lở đất. Lo lắng, hắn cao
giọng gọi đồ đệ nhiều lần nhưng mưa và sấm chớp át tiếng hắn gọi.
Trong cảnh thịnh nộ của trời đất, Thạch Đạt Lang dường như thấy cây đại
bách sau chùa Tiểu Sơn và vẳng nghe giọng trách mắng nghiêm khắc của Đại Quán. Hắn mở mắt trừng trừng, tưởng trông thấy nhà sư trước mặt. Hắn
muốn được như cây đại bách kia, hiên ngang vững chãi trước dông tố và
được như nhà sư, có tấm lòng độ lượng không bờ bến. Nếu làm được cho Hạo Nhiên và những người dân vùng này những gì Đại Quán đã làm cho hắn thì
món nợ đối với Đại Quán chắc cũng nhẹ được đôi phần.
Thạch Đạt Lang lại lên tiếng gọi đồ đệ. Không thấy bóng dáng nó đâu, hắn bắt đầu sốt ruột.
Mưa dần dần ngớt hột, gió thổi giật từng hồi và trời đã hé rạng. Thạch
Đạt Lang bước khỏi lều đi tìm Hạo Nhiên, thấy nó thu mình dưới tàng lá,
ướt như chuột lột và tơi tả như thằng bù nhìn giữ dưa.
- Hạo Nhiên ! Sao không về nhà !
- Mưa này không lâu đâu thầy. Tạnh rồi đó ! Ta còn làm thêm được lúc nữa.
Không ngờ thằng bé bướng đến thế ! Thái độ và lời nói của nó vô tình dạy cho Thạch Đạt Lang bài học kiên trì trước nghịch cảnh khiến hắn phải
suy nghĩ.
Những ngày sau đó, trời bàng bạc, ảm đạm. Trận mưa tuy to nhưng ngắn
không làm hư hại gì đến công trình khẩn hoang của hai thầy trò. Khu đất
mới cuốc trở nên sẫm màu. Cỏ xanh hơn trước và trên từng không, đã có
những đàn ngỗng thiên di, tiếng khàn khàn qua màn sương mỏng dội xuống
lẫn với gió heo may gây gây lạnh.
Thạ