kiếm sẽ
yếu. Nhiệt độ nung phải cao. Những bậc thầy trong nghề, nhìn ánh thép
phát ra khi nung biết là đã rèn được hay chưa. Thép nung đúng độ rồi thì rút ra để trên đe để thợ phụ đập cho dẹp theo chiều dài.
Lúc thép đã khá mỏng, phải nhanh tay xoay trở gấp lại cũng theo chiều dài lưỡi kiếm.
Nếu nguội, cho vào lò nung rồi lấy ra đập nữa. Rèn như thế hàng nghìn
lần, lớp nọ chồng lớp kia, thép kiếm mới đủ cứng, đồng thời lại khá dẻo
không dễ gãy. Sau đó đem tôi. Tôi thép nghĩa là làm cho thép nguội nhanh để giữ những đặc tính của nó. Nói thì dễ, nhưng khi thực hiện mới thấy
khó. Nếu không kinh nghiệm, ở một giai đoạn nào đó trong lúc rèn, người
thợ làm sai tiêu chuẩn thì lưỡi kiếm coi như hỏng. Bây giờ chỉ còn rất
ít những tay lành nghề rèn được kiếm tốt mà thôi, và dường như họ tụ lại ở cả Nara thì phải.
Thạch Đạt Lang ngồi nghe không dám lạm bàn, đôi lúc cũng hỏi vài câu
hoặc xin dẫn giải thêm những điều chưa rõ. Thấy khách chú ý, Vương Chính hết sức sốt sắng, mắt long lanh, lấy từ tráp ra nhiều tập sách cổ, chỉ
cho Thạch Đạt Lang xem những thanh kiếm quý được ghi chép và mô tả trong đó.
- Những năm gần đây, tại hạ có đi các nơi, nhất là đến những đền miếu,
được biết có lưu trữ nhiều cổ kiếm. Như ở Suwa, tỉnh Shinano, một vị
thiền sư đã cho tại hạ xem bộ sưu tập kiếm quý. Có đến hàng trăm chứ
không ít, phần nhiều là kiếm gia bảo do chủ nhân không muốn giữ, đem
tặng đền. Kiếm cổ thật, nhưng rất tiếc bị han rỉ gần hết. Ở Omishima,
trong hàng ngàn kiếm đã xem, tại hạ chỉ chọn được chừng một chục là còn
sửa được.
Nhấp ngụm rượu, ngồi thừ ra một lúc, Vương Chính thở dài:
- Điều trớ trêu là kiếm càng cổ bao nhiêu thì dường như chủ nhân nó càng cất kỹ bấy nhiêu, có khi còn chôn đi cho khỏi lộ nên rỉ sét hư hỏng cả. Những người đó chẳng khác gì các bậc làm cha mẹ, che chở bảo vệ con
mình quá đáng, để chúng không được tôi luyện trên trường đời nên sau này trở thành ngu xuẩn, đần độn.
Nói đến đây, mắt Vương bỗng sáng lên, rồi như sực nhớ ra điều gì, xin
lỗi chạy vào trong nhà. Lúc ra mang theo một cây kiếm dài một cách khác
thường, để lên chiếu.
Thạch Đạt Lang giật mình, tim như ngừng đập. Không lầm được, đây chính là “cây sào phơi” của Giang Biên Liễu Cát Xuyên Mộc.
Nhìn khách, Vương Chính ngạc nhiên:
- Sao ? Khách quan cũng biết thanh kiếm này à ?
- Biết. Của một kiếm sĩ tên Cát Xuyên Mộc.
- Phải rồi. Nhân có việc đến dinh Hòa Giả, một tùy viên trong dinh là
Cao Mục Lân đã nhờ tại hạ sửa lại cho thanh kiếm này. Hắn nói kiếm của
người bà con hắn tên Cát Xuyên Mộc.
Vương Chính rút thanh kiếm ra, kiếm quang sáng lòa:
- Đây là một thanh kiếm lạ, dài quá mức bình thường. Kẻ nào dùng nó phải là người khổng lồ, tay như tay vượn, hoặc nếu không thì cũng phải thành thuộc lắm.
Thạch Đạt Lang cầm kiếm lên ngắm:
- Sao không thấy khắc tên người đã tạo ra nó ?
- Không khắc tên nhưng đúng là kiếm Tư Dưỡng Trai đấy ! Tư Dưỡng Trai là một nhà luyện kiếm danh tiếng ở tỉnh Suo, qua đời vào thế kỷ trước. Tạo phẩm của ông để lại không nhiều và có một số không đề tên nhưng quan
sát kỹ tất biết.
- Kiếm này dùng xung trận ...
- Đúng vậy, và phải đeo trên lưng. Nhưng chủ nó bây giờ muốn sửa lại đeo ngang hông. Cũng mất công lắm. Khách quan có thấy vài chỗ rỉ sét trên
mặt không ? May là kiếm tốt có thể mài mất đi được, chứ kiếm bây giờ mà
như thế là rỉ ăn xuyên sang bên kia rồi, coi như bỏ.
Chuyện vãn hồi lâu, thấy không tiện lưu lại thêm nữa, Thạch Đạt Lang xin cáo thoái.
Đêm khuya, lá cây phong bên cửa sổ sương đã bắt đầu động giọt. Trở lại
phòng trọ, vẫn chưa thấy Hạo Nhiên đâu, Thạch Đạt Lang lo lắng đứng nhìn ra ngoài cửa sổ. Đêm càng lúc càng khuya. Trên mặt con rạch nước đen, sương đã phủ lờ mờ, có chỗ che khuất cả những lùm cây dại và chân cầu gỗ.
“Chẳng biết đây có phải là khu Kobikicho không ?”. Hạo Nhiên đi đã mỏi
và mặc dầu đã hỏi thăm nhiều người, ai cũng bảo đúng, nó vẫn phân vân
nghi hoặc. Cảnh trí đìu hiu. Chỉ còn vài ngôi nhà gỗ tận đàng xa le lói
ánh đèn. Gió về khuya chớm lạnh thoảng đưa đến tai nó lúc xa lúc gần
những tiếng rì rào của sóng vỗ ngoài vịnh. Gần bờ rạch, nhiều đống gỗ đá ngổn ngang, trong bóng đêm tạo thành các hình thù kỳ dị. Ở thành đô bây giờ chỗ nào nhà cửa cũng đua nhau mọc lên như nấm gặp trời mưa, nhưng
Hạo Nhiên khó có thể tin được Trúc Mộ đại nhân lại ở một khu nghèo nàn
như khu này.
Nó hoang mang chẳng biết tính thế nào:
đi thì đêm khuya khó gặp người để hỏi thăm đường, mà về thì quyết không
được rồi ! Một lời hứa với sư phụ không thể coi thường. Sư phụ chẳng
phạt nó đâu nhưng lần đầu tiên ông sai làm một việc nó cho là quan
trọng, việc chẳng thành, nó cảm thấy hổ thẹn.
Mấy ngón chân hơi nhức, Hạo Nhiên tìm một tảng đá ngồi xuống cởi dép ra, để chân trần lên đám cỏ ướt sương, thấy mát dễ chịu. “Tất cả đều do mụ
quản lý ở quán Mã Đề mà ra cả. Hỏi mụ, mụ bảo đến khu Kobikicho mà tìm.
Khu nghèo nàn vắng vẻ thế này, làm gì có phủ Trúc Mộ !”. Hạo Nhiên nhặt
hòn đá ném mạnh xuống đất cho đỡ bực bội. Nó không ngờ rằng Kobikicho là một khu rộng l
