i lại tiếng nói của người Mông Cổ lại có thể dịch các ngôn ngữ khác, đây quả là một việc không hề dễ dàng. Điều đó chứng tỏ Bát Tư Ba là người có tầm tri thức uyên bác đến nhường nào!
Tôi tán đồng:
- Cậu có biết nguồn gốc của chữ Tạng không? Trước thế kỷ thứ bảy, người Tạng chỉ có lời nói, không có chữ viết. Chính vị vua vĩ đại nhất của Tufan khi đó, Tùng Tán Cán Bố, đã cho người sáng tạo ra chữ Tạng dựa trên chữ Phạn của Ấn Độ. Bởi vậy, người sử dụng có thể dễ dàng chuyển ngữ giữa chữ Tạng và chữ Phạn.
- Điều này có liên quan đến việc Bát Tư Ba sáng tạo ra chữ Mông Cổ ư?
- Có chứ. Ở Ấn Độ, kinh Phật được ghi chép hoàn toàn bằng chữ Phạn. Các giáo phái Phật giáo Tây Tạng đông đảo, đa dạng là thế, chỉ trong vòng vài trăm năm đã phiên dịch được một khối lượng kinh văn khổng lồ, bởi vậy họ đã tích lũy được vốn kinh nghiệm dịch thuật vô cùng phong phú. Phật giáo Tạng truyền còn giảng dạy môn “Thanh minh học”, tức là môn học chuyên nghiên cứu, luận bàn về cách hành văn và văn tự học. Tổ tiên nhiều đời của Bát Tư Ba đều là các bậc thầy về Thanh minh học, nhất là người bác Ban Trí Đạt của cậu ấy.
Nhớ tới ông cụ thông tuệ, uyên bác ấy, tôi bất giác thở dài:
- Hồi sống ở Lương Châu, đại sư Ban Trí Đạt từng than phiền rằng người Mông Cổ không có chữ viết của riêng mình, họ cai trị bao nhiêu dân tộc khác nhau, ngôn ngữ, chữ viết lại phức tạp như thế, rất bất lợi cho việc ban bố sách lệnh. Bởi vậy, đại sư đã tiến hành cải tiến văn tự Uyghur mà người Mông Cổ sử dụng phổ biến lúc bấy giờ.
Chàng trai trẻ gật đầu:
- Tôi hiểu được rồi. Được sự truyền dạy chu đáo của người bác, Bát Tư Ba chắc chắn sẽ là hậu bối tài năng. Công cuộc tìm tòi, khảo cứu và cải tiến thử nghiệm của người bác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo của Bát Tư Ba sau này.
- Đúng vậy. Bát Tư Ba đã suy nghĩ về vấn đề này: chữ Tạng có thể chuyển dịch sang chữ Phạn, vậy thì vì sao không thể áp dụng đúng nguyên tắc đó để chuyển dịch sang chữ Mông Cổ?
Chàng trai trẻ bật cười vì đã hiểu ra vấn đề:
- Kỳ diệu! Chỉ có bộ óc siêu phàm như ngài mới nghĩ ra được điều này.
- Đâu có dễ dàng như vậy. Dù Bát Tư Ba tinh thông cả chữ Phạn, chữ Tạng, chữ Uyghur và tiếng Mông Cổ, thậm chí cậu ấy còn nghiên cứu cả chữ Hán nữa, nhưng để có thể sáng tạo ra một hệ thống chữ viết hoàn chỉnh, không thể hoàn tất trong một thời gian ngắn.
Bát Tư Ba đã suy nghĩ về vấn đề này rất nhiều, thậm chí mất ăn mất ngủ. Tôi thở dài xót xa:
- Bát Tư Ba đã mất tám năm ròng không ngừng nỗ lực nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm, cuối cùng mới phát minh ra loại chữ viết mà người đời sau thường gọi là chữ Bát Tư Ba.
=========
[1'> Nguyên tác là “thất xuất”, hay còn gọi là “thất xuất chi điều” nghĩa là bảy tội trạng của người làm vợ vào thời phong kiến, mà theo đó, chỉ cần người vợ phạm phải một trong bảy tội này thì người chồng có quyền bỏ vợ. Bảy tội đó là: Không con, dâm đãng, không thờ cha mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông, mắc bệnh khó chữa. (DG)
[2'> Nữ giới hay Những điều răn dạy phụ nữ là cuốn sách của tác giả Ban Chiêu, thời Đông Hán, cuốn sách răn dạy phụ nữ đạo lý làm người. (DG)
“Bậc thánh hiền dù không phô bày học vấn,
Tiếng thơm vẫn truyền khắp nhân gian;
Hoa lan tuy chỉ cắm trong bình nhỏ,
Hương thơm vẫn lan xa khắp chốn.”
(Cách ngôn Sakya)
27.1
- Kháp Na, là thiếp.
Quả không ngoài dự đoán của tôi, ngày hôm sau, Mukaton đã tới tìm Kháp Na.
Kháp Na một tay ôm đầu vẫn còn nặng trịch vì say rượu, một tay nâng bát canh giã rượu lên uống, mặt nhăn như cái bị.
- Có chuyện gì thế, Công chúa?
- Chàng cứ mở cửa đi, tôi có chuyện muốn nói.
Hiếm khi Mukaton ôn hòa như vậy, thậm chí giọng nói còn vương vất chút buồn thương.
Tôi biết Mukaton đến để làm hòa với Kháp Na nên hích hích chiếc mũi nhọn vào người cậu ấy, đồng thời nhẹ nhàng khuyên nhủ:
- Cậu cứ để cô ấy vào đi.
Kháp Na uể oải mở cửa. Mukaton bước vài, đưa mắt ngó quanh căn phòng đơn sơ của chồng. Bốn phía đều là giá gỗ xếp đủ loại thư tịch tiếng Tạng và tiếng Hán. Trên giường chỉ có một tấm chăn mỏng và một chiếc gối. Nơi ăn chốn ở của Kháp Na luôn như vậy, gọn gàng, sạch sẽ như lai như li nhưng đơn sơ, đạm bạc đến mức không có dù chỉ một món đồ trang trí. Mukaton nhìn đăm đắm gương mặt điển trai của Kháp Na, ánh mắt hoang mang, sợ hãi, vẻ dữ dằn, hung hăng thường ngày biến đâu mất.
Kháp Na khách sáo hỏi:
- Công chúa có việc gì thế?
Mukaton sực tỉnh, bất giác khom lưng, cất giọng cay đắng:
- Kháp Na, anh trai tôi và Đại hãn… - Cô ấy nghẹn ngào ngưng bặt, quay mặt đi, hít thở sâu nhiều lần mới khổ sở nới tiếp. – Tóm lại, tôi đã nghĩ kỹ rồi. Bắt đầu từ hôm nay, chàng cứ vào phòng người phụ nữ đó nếu chàng muốn, tôi không ngăn cản nữa.
Kháp Na tròn mắt nhìn Mukaton rồi cảnh giác lùi lại phía sau:
- Cô không thể nào đột nhiên phát tâm bồ đề như vậy, cô nói đi, điều kiện của cô là gì?
Mukaton cắn chặt môi, máu đỏ rỉ ra mà cô không hề hay biết. Cô ấy nắm tay chặt đến nỗi tưởng như có thể tan ra thành nước, trợn mắt nhìn Kháp Na, lấy hơi nhả ra từng tiếng một, nặng nề:
- Chàng đến với cô ta một