n lên khóe môi của hắn, mát lạnh thấm đến phế quản, khiến tim ta
run rẩy như dây đàn bị gẩy lên, dư âm lượn lờ…
Hắn xoay mặt lại nhìn ta, ánh mắt sâu kín nặng trĩu, tuy khoảng cách
chỉ là từ chóp mũi đến chóp mũi, nhưng ta lại nhìn không ra ý nghĩ thật
sự trong lòng hắn, bỗng dưng có chút chột dạ.
“Có vài câu muốn nói với chàng, nhưng chuyện khá dài dòng, hay là đợi chàng trở về, ta sẽ nói rõ tường tận với chàng sau.”
“Nhưng giờ có một chuyện ta muốn hỏi chàng.” Ta vuốt ve đường vân
trong lòng bàn tay hắn, nhìn thẳng vào đôi mắt hắn, thấp giọng hỏi “Ở
chung với ‘bọn ta’, chàng có vui vẻ không?”
Hắn không tránh đi ánh mắt của ta, khóe miệng hắn khẽ cong lên một chút, đáy mắt ửng lên ý cười nhàn nhạt.
“Ta vốn tưởng rằng mình và bọn hắn không hợp nhau, khó mà chung sống
hài hòa.” Hắn vén lên lọn tóc bên tai ta bị gió thổi rối loạn, ôn nhu
nói “Nhưng có lẽ, một năm sống ở Lý phủ đã sớm làm cho chúng ta trở
thành người một nhà.”
Kiều Tứ và hắn chung sống hòa thuận nhất, Đường Tam tính tình đơn
giản, sẽ không xích mích gì với nhau, Đào Nhị là người thật sự biết hắn, hiểu hắn, chỉ có Yến Ngũ khó chịu lâu lâu ăn phải dấm chua chút đỉnh,
nhưng cũng chỉ thêm chút gia vị cho cuộc sống mà thôi. Trong chốn triều
đình nơi đế đô, sư phó ít có một người bạn chân chính nào, lúc mới vào
Lý phủ hắn còn chưa quen bầu không khí giang hồ ở đó, nhưng khi trở về
triều đình, có lẽ rốt cuộc hắn cũng ý thức được – thói quen xưa kia đã
bị lãng quên, thói quen mới đã từng bị bài xích, rồi lại thử chấp nhận,
cho rằng mình chán ghét, nhưng bất tri bất giác lại trở thành thói quen
mới…
Vốn tưởng rằng năm tháng sống ở Lý phủ máu chó đầy trời, lông gà đầy
đất, ồn ào náo nhiệt là giả vờ diễn kịch cuộc sống tự tại, yên lành, lại không ngờ diễn quá hóa thật, kịch giả tình thật.
Có những thứ khi sắp mất đi mới có thể nhìn rõ, hiểu rõ giá trị của nó. Hòa thân . . .
Sư phó và Mặc Duy cùng đi sứ Mân Việt quốc, Đào Thanh vô cùng biết
điều phái Cổ Thuần Kiệt đi thông báo với đối phương “Ngừng chiến, tạm
không gỡ địa lôi” …
Ta vốn tưởng rằng quyết định nghị hòa lần này sẽ đả kích sĩ khí,
nhưng không ngờ đa số binh lính cũng chẳng lấy gì làm bức xúc đối với
quyết định lần này, ta tùy tiện phỏng vấn vài vị tướng sĩ trong quân, có người khí thế như muốn nuốt cả núi sông, không chiếm Mân Việt quốc
không về, có người hùng hồn dõng dạc thề sống thề chết đòi đạp phá Võ Di sơn, nhưng đa số vẫn là phản đối chiến tranh, ủng hộ hòa bình.
Binh lính Giáp: “Cũng đâu có thâm cừu đại hận gì, nếu không bắt buộc đánh thì đừng đánh.”
Binh lính Ất: “Chỉ cần không bị nỗi nhục mất nước, tốt nhất vẫn là dĩ hòa vi quý a.” – người này chắc có đọc sách.
Binh lính Bính: “Ta muốn về nhà…”
Ta thở dài ngồi xuống cùng bọn họ, nhớ đến lời kêu gọi nhập ngũ. “Ta
cũng không muốn đánh trận, tốt nhất là cất đao thương vào kho, thả ngựa
chạy rông trên núi Nam… nhưng dù sao cũng phải có người biết đánh trận
là thế nào chứ.”
Lần này thâm nhập vào cuộc đối thoại của binh lính trong quân, ta đã
nghe được tiếng lòng của đa số binh sĩ, không giống như Lương quốc có ý
đồ chiếm đoạt lãnh thổ phương Bắc của Đại Trần ta, Mân Việt quốc và Đại
Trần không có mối thù truyền kiếp nào cả, vì bị bức bách mà đành quay
đầu lại cắn đại chúng ta một cái, hiện giờ cũng đã giáo huấn bọn họ
không ít, thấy đủ thì thôi, dĩ hòa vi quý.
Sau khi sư phó gặp quốc chủ Mân Việt quốc – Lam Chính Anh, hôm sau
lập tức truyền tin về cho biết đối phương đồng ý nghị hòa, hai bên ngừng chiến tiến vào giai đoạn đàm phán, địa điểm được chọn là Kiếm Bình sơn
nằm giữa đại doanh của hai bên, hai bên mỗi bên cử ra ba người đại diện, đại diện bên ta là sư phó – người chịu trách nhiệm chính, Mặc Duy và
Hàn Hâm là người chịu trách nhiệm phụ, bên đối phương do Lam Chính Anh
dẫn đầu, còn lại là một người họ Bạch, một người họ Hồng, nghe nói Mân
Việt quốc dùng tôn giáo phù trợ quốc gia, Mân Việt Mật Tông giáo nắm
trong tay một nửa quyền lực ở Mân Việt quốc, là tín ngưỡng của dân chúng Mân Việt quốc, người của Mật Tông giáo đều mang họ Bạch, ở Mân Việt
quốc, Lam, Bạch là hai dòng họ tôn quý nhất.
Ta cũng chẳng có chút hứng thú nào với chuyện này, chỉ tò mò hỏi Lưu
Triệt: “A Triệt, bên đối phương cử ra một quốc chủ, một Thừa tướng, một
Trưởng lão. Ngươi không ra mặt sao?”
Lưu Triệt đáp: “Mân Việt chỉ là một nước nhỏ phiên bang thôi, quốc
chủ của bọn họ sao có thể so ngang hàng với Đế vương của Đại Trần chúng
ta, để Thẩm thừa tướng đi là đủ rồi.” Nói rồi ho nhẹ vài tiếng.
Ta không nói nên lời cả buổi, hắn cao cao tại thượng kiểu đế vương
này thật chẳng giống ta chút nào, cho nên mới nói, người thích ăn gà
nướng là người có tấm lòng lương thiện, hòa đồng, bình dân, quả thật
không sai mà!
Cuộc đàm phán chính thức bắt đầu vào một ngày trời trong nắng ấm, ta
ngồi trên đài quan sát dõi mắt nhìn dãy núi phía Nam trùng trùng điệp
điệp xa xa, gió lạnh thổi vào mặt mang theo hương vị cỏ xanh và bùn đất
ươn ướt, man mát ngấm vào tận tim phổi. Một chiếc áo choàng khoác lên
vai ta, Kiều
