vẳng đâu đây tiếng ngựa hí, quân reo, tiếng tên xé gió kêu vi vút. Hoàng Thiều Hoa nước mắt đầm đìa. Còn Đào Kỳ mím môi nghiến răng:
– Khi gặp thời thì anh chàng câu cá như Hàn Tín, anh chàng bán thịt chó
như Phàn Khoái cũng thành công. Còn khi thời đã mất thì dù có tài như Sở Bá vương cũng phải tự tận trên bến Ô-giang. Cao đại tướng quân tài trí
một thời, giúp Thục An Dương vương dựng nghiệp lớn, chế ra nỏ thần, giết Đồ Thư, đánh Triệu Đà nhiều trận kinh hồn táng đởm. Nhưng đất Âu-lạc
người ít, dân thưa, lại bị cái vạ Mỵ Châu làm cho đến nỗi mất nước, phải tự tận. Tiếc thay cho những bậc anh hùng!
Phạm Bách dẫn hai người vào đền thờ, chỉ cho xem tượng tướng quân Cao
Nỗ, uy nghiêm như người sống. Bên cạnh tượng dựng một cây côn bằng đồng
sáng chói.
Phạm Bách hỏi Đào Kỳ:
– Bác nghe cháu đã được học Cửu-chân trượng pháp và đã luyện đến chỗ tuyệt kỹ. Vậy cháu có thể biểu diễn để bác coi được không?
Đào Kỳ tuân lệnh, đến trước bàn thờ Cao Nỗ qùy xuống khấn:
– Nếu Cao tổ sư có linh thiêng xin chứng cho đệ tử. Đệ tử mạo muội sử dụng đồng côn của ngài, để biểu diễn cho sư bá xem.
Đồng côn của Cao Nỗ không có hình dáng tròn, mà là một cây gậy hình tam
cánh đều đặn, dài khoảng gần một trượng. Đào Kỳ những tưởng đồng côn
nặng lắm, nhưng khi cầm lên lại thấy vừa. Nó ngạc nhiên vô cùng, tự hỏi:
– Hay là đồng côn rỗng bên trong?
Nó rút kiếm khẽ gõ vào đồng côn, thì thấy tiếng cách, cách, tỏ ra đồng côn đặc chứ không phải rỗng. Nó tự nghĩ:
– Chắc cây côn này chỉ bọc ngoài một lớp đồng, còn bên trong thì bằng chất gì khác nhẹ hơn đồng.
Nó hướng vào Phạm Bách hành lễ:
– Đệ tử xin mạn phép, nếu có gì sai xin sư bá chỉ điểm cho.
Nói xong, nó múa đủ 18 lộ Cửu-chân côn pháp, rồi ngừng lại:
– Xin sư bá chỉ dạy.
Phạm Bách mơ màng nhớ lại hồi còn trẻ, sư phụ có dạy Thục gia trượng
pháp cho ông, nhưng vì ông là ngoại đồ, nên chỉ được học có 10 lộ mà
thôi. Nay thấy Đào Kỳ đánh đủ 18 lộ, ông mới biết Thục gia trượng pháp
có biến hoá phức tạp vô cùng, mỗi lộ bề ngoài coi cục mịch nhưng bao hàm những sát chiêu ghê gớm. Ông được sư phụ giảng rằng côn pháp này do tả
tướng Vũ Bảo Trung tức ông Nồi chế ra. Sau đó ông đã dùng nó để đánh
quân Tần. Chính Đồ Thư bị giết về lộ côn pháp này. Sư phụ ông còn nhấn
mạnh: Côn pháp xuất phát từ Vạn-tín hầu Lý Thân. Khi Vạn-tín hầu tự tận
thì đệ tử của ngài là Vũ Bảo Trung mới dựa theo đó mà sửa đổi, thêm
những kinh nghiệm vào. Trượng pháp nổi danh ngang với thần tiễn của Cao
Nỗ. Nó có đặc điểm là dù người ngu, người già, đàn bà, trẻ con đều học
được cả. Khi sử dụng, tuỳ theo công lực. Công lực yếu, thì uy mãnh
thường, công lực mạnh thì uy mãnh tuyệt luân.
Ghi chú của thuật giả
Cao Nỗ, trước theo vua Hùng. Khi An-dương vương vây vua Hùng, Ngài mở
cửa thành cho An-dương vương vào ngày mùng sáu tháng giêng. Về sau ngày
sáu tháng giêng trở thành ngày hội của Cổ-loa. Dân chúng coi như ngày
lập quốc thứ nhì. Có câu tục ngữ:
“Chết thì bỏ con, bỏ cháu,
Sống thì không bỏ mùng sáu tháng giêng”
Cao Nỗ là một trong Tứ-trụ đại thần triều Âu-lạc là:
1. Đại-tư mã, Vạn-tín hầu Lý Thân.
2. Đại-tư không, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung.
3. Đại-tư đồ, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ (Lỗ).
4. Tể-tướng, Phương-chính hầu Trần Tự-Minh.
Sau khi Vạn-tín hầu Lý Thân tự tận, Cao Nỗ được thay thế lĩnh chức Đại
Tư-mã, tương đương với ngày nay là Tổng Tư-lệnh quân đội. Cũng có sách
chép ngài lĩnh chức Tả-tướng quân. Vì có chân tài, lại có công, ngài
được An-dương vương phong làm Cao Cảnh-hầu, Em Ngài là Cao Tứ được phong là Cao-dương hầu. Ngài là người phát minh ra nỏ thần, bắn một loạt hàng ngàn mũi tên. Sau dân chúng huyền thoại hoá đi rằng vua Thục được thần
Kim-quy cho móng rùa làm nẫy nỏ. Trước đây, suốt một dãy bờ biển từ
Thanh-hoá đến Hà-nội nơi nào cũng có đền thờ hai Ngài.
Niên hiệu Trùng-hưng thứ 1 (1285) đời vua Trần Nhân-tông, sắc phong ngài là Nghị-vương. Năm Trùng-hưng thứ 4 (1288) gia phong Cương-chính
Nghị-vương. Niên hiệu Hưng-long thứ 21 (1313) đời Trần Anh-tông gia
phong Uy-huệ Cương-chính Nghị-vương.
Hiện tôi còn tìm ra bốn đền thờ ngài:
1. Đền thứ nhất, ở số 13B phố Đào Duy Từ, Hà-nội,
2. Đền thứ nhì, ở đình Ngũ-đăng, Hàng-bè, Hà-nội. Tại đình Ngũ-đăng có
đắp tượng hai ông và con voi cùng tử tiết, với đôi câu đối:
“Tô chử nộ ba đào, nhất phiến tinh trung truyền Thục sử,
Loa thành huyền nhật nguyệt, cửu trùng hoa cổn tại Đinh triều”
Nghĩa là:
Sóng sông Tô-lịch cuồn cuộn sóng căm hờn, tấc dạ trung thành truyền sử Thục.
Thành Cổ-loa treo cao vầng nhật nguyệt, áo hoa phong tặng tự Đinh triều.
Thời nhà Đinh, vua Đinh Tiên-hoàng là đệ tử phái Hoa-lư, hậu duệ của
ngài, khi lập được đại nghiệp, phong ngài là Trung dũng đại vương.
(Chi tiết về Cổ-loa, xem hồi 10 trong sách này),
3. Đền thứ ba, tại đình Ái-mộ, tổng Gia-thụy, nay là xã Gia-thụy, huyện
Gia-lâm, Hà-nội. Phổ của đình chép ngàigiữ chức Tả-tướng quân triều
Âu-lạc. Ngài là người chế ra nỏ thần, gọi là Linh-quang kim trảo thần
nỗ. Sau này, thế kỷ thứ tám, viên quan nhà Đường là Cao Biền, sang cai
trị nước
