sút. Từ bấy giờ đến bây giờ, trong
ngực còn ngấm ngầm đau.
Ðào Kỳ nói:
– Lão bá có biết Phong-châu song quái không? Nhị quái võ công như thế mà còn thua y đấy.
Tam Trinh nói:
– Ta nghe đồn trong hàng ngũ quan lại người Hán có Nghiêm Sơn nổi tiếng
là Quế-lâm thần kiếm, cùng với Hợp-phố lục hiệp là những người Hán nổi
danh nghĩa hiệp. Họ sang Lĩnh-nam làm quan, nhưng khác hẳn với bọn tham
ô, chỉ biết vơ vét. Họ thường ra tay nghĩa hiệp giúp dân. Võ công họ cực cao. Không biết tên quan Hán này có liên quan gì đến Nghiêm Sơn với
Hợp-phố lục hiệp không?
Thiều Hoa liếc nhìn Ðào Kỳ không nói gì.
Bỗng Nguyễn Tam Trinh hỏi Ðào Kỳ:
– Cháu có mang theo cây đồng côn tám cạnh. Ai đã cho cháu cây côn đó? Cháu có thể kể cho ta nghe được chăng?
Ðào Kỳ thuật lại tỉ mỉ tất cả những biến cố tại đền thờ Cao Nỗ cho ông
nghe. Kỳ là con út một danh gia, cha nó Ðào lạc hầu là người nổi tiếng
về đạo đức, ông dạy con rất cẩn thận. Nó lại là đứa trể thông minh, học
văn, học võ đều thành, do vậy nó rất nể trọng những người đạo đức. Giữa
lúc trên đường lưu lạc vì nhà tan cửa nát, nó được gặp Nguyễn Tam Trinh. Hàng ngày, cha, cậu nó khi đề cập đến võ lâm, thường ca tụng không hết
lời tám vị Thái-bảo phái Sài-sơn, có đời sống ẩn dật như tiên. Khi hành
sự với đời, thường lấy đạo lý làm căn bản. Cho nên nói chuyện với Nguyễn Tam Trinh, nó thấy ở ông toả ra nét hào hùng, đạo đức tuyệt vời, khiến
nó kính trọng, và kể sự thực, không dấu diếm gì.
Sau khi kể xong, nó hỏi:
– Lão bá! Xin lão bá chỉ rõ cho cháu về cây gậy này. Khi Phong-châu song quái bắt cháu đi thì bắt cả cây côn theo. Cháu định sau này có dịp đem
lại đền Cao-cảnh hầu trả lại.
Tam Trinh gật đầu:
– Cây đồng côn này ngày xưa của Phù-đổng Thiên-vương đánh giặc Ân. Các
vị vua Hùng giữ làm quốc bảo. Sau Sơn Tinh được làm phò mã, thì ngài
truyền cho ông. Thời An-Dương vương lấy nước Văn-lang, cây đồng côn đó
về Vạn-tín hầu Lý Thân. Lý Thân truyền cho Cao Nỗ. Vì có duyên với cây
côn, nên Song-quái bắt cháu thì bắt, nhưng sao lại mang cả côn theo...
Rõ ràng là cháu có phúc phận hưởng thì di vật tiền nhân mới về tay cháu. Ta tin rằng cây đồng côn này sẽ giúp cháu nhiều, cháu chớ để mất.
Thiều Hoa hỏi:
– Thưa bác cháu nghe nói: Phù-đổng Thiên-vương là một đứa trẻ tám tuổi,
chưa biết nói. Một hôm có sứ vua đi tìm người đánh giặc Ân, tự nhiên nói được, xin mẹ mời sứ vào. Ngài tình nguyện đánh giặc. Ngài bảo sứ về tâu với vua, làm một con ngựa sắt, một cây gậy sắt, đem đến. Ngài lại xin
thổi thực nhiều cơm, ăn xong, vươn vai một cái lớn gấp đôi người thường. Ngài vỗ bờm, ngựa sắt phun lửa, phi như bay. Sau khi giết hết giặc,
ngài lên núi Sài-sơn rồi biến mất. Cháu tưởng đó là chuyện hoang đường,
không ngờ là thực sao?
Tam Trinh giảng:
– Không phải như vậy đâu. Phù-đổng Thiên-vương là một võ sư đương thời.
Ngài luyện võ, nên gần như không nói với ai, người đời đùa rằng ngài
câm. Năm 24 tuổi, ngài ứng lời gọi của vua đi đánh giặc Ân. Hết giặc
ngài lên núi Sài-sơn ẩn thân tiêu dao mây nước, tập võ. Ngài chế ra phép đánh trượng, sau Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung thêm vào thành Thục gia
trượng pháp, mà giòng họ Ðào cháu còn lưu truyền. Ngài còn chế nhiều pho quyền cước, đao, kiếm lưu truyền đến ngày nay. Sau khi ngài quy tiên,
thì đệ tử đời đời lưu truyền thành phái Sài-sơn. Ta chính là hậu duệ của ngài. Phái Sài-sơn của ta, võ nghệ không bằng phái Tản-viên, Long-biên
và Cửu-chân nhà cháu, vì chúng ta phải học nhiều thứ: Cưỡi ngựa, trồng
cây, âm nhạc. Sở dĩ chúng ta được người đời biết đến, vì theo chủ trương của Thiên-vương, tiêu dao tự tại, lấy trời đất, mây nước vui hạc nội
mây ngàn, không thích công danh. Giúp đời mà không cần đòi báo đáp.
Khi An-dương vương thắng Hùng-vương, Vạn-tín hầu Lý Thân, Cao-cảnh hầu
Cao Nỗ, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung bắt được cuốn phổ chép tất cả võ công của Phù-đổng Thiên vương và phò mã Sơn Tinh. Nhưng các ngài tự cao là
người thắng trận, không chịu tập võ nghệ của kẻ bại trận. Vạn-tín hầu Lý Thân lấy tất cả võ công của Sơn Tinh đem nghiên cứu, tìm ra những chiêu thức phá các chiêu thức đó. Như Phục-ngưu thần chưởng có 36 thức Dương
cương, ngài chế ra 36 thức Âm nhu, để chống lại. Như thức Dương cương
tên là Ngưu thực ư dã, ngài vẫn để nguyên tên như vậy, thành ra một thức chưởng có hai lối phát chiêu khắc chế nhau, mang cùng một tên. Người
nào luyện được cả Âm lẫn Dương thì chiêu trước phát theo Dương cương,
chiêu sau phát theo Âm nhu. Người nào nội công cao cường thì tay phải
phát Dương cương, tay trái phát Âm nhu.
Ðào Kỳ như bước vào thế giới mới lạ về võ thuật, nó hỏi:
– Nếu như có người nào tay phải phát chiêu Dương cương, tay trái phát
chiêu Âm nhu, nhưng hai chiêu khác tên, thì người đó phải là anh hùng vô địch.
Nguyễn Tam Trinh nói:
– Vạn-tín hầu Lý Thân đã làm được điều đó. Khi ngài đấu với những võ
tướng bật nhất của Tần Thuỷ Hoàng, ngài thắng họ nhờ lối phát chưởng
này.
Thiều Hoa hỏi:
– Thưa lão bá, nếu bây giờ có ai tay trái phát Dương cương, tay phải
phát Âm nhu, rồi thình lình tay trái phá