ng thư sinh đời xưa này không.
"Nếu con là con trai," cha tiếp tục, "con sẽ thành một học sĩ xuất sắc của triều đình, và có lẽ là người giỏi nhất trong gia tộc chúng ta."
Ông có ý khen ngợi và tôi hiểu theo ý đó, song tôi cũng thấy sự nuối tiếc trong giọng nói của ông. Tôi không phải là con trai và sẽ không bao giờ là con trai cả.
"Nếu con lại đây," ông hấp tấp nói thêm có lẽ vì nhận thấy sơ ý của mình, "con sẽ giúp được ta đấy."
Chúng tôi trở lại bàn của ông và ngồi xuống. Ông cẩn thận chỉnh sửa y phục rồi chỉnh lại cái đuôi sam cho nó buông thẳng xuống lưng. Ông vuốt ngón tay trên vầng trán cạo nhẵn, một thói quen, giống như ăn vận theo phong cách Mãn Châu, nhắc nhở ông về sự lựa chọn của mình để bảo vệ gia tộc, rồi ông mở một ngăn kéo lôi ra mấy xâu tiền bạc.
Ông đẩy một xâu qua bàn và bảo, "Ta cần gửi tiền về quê. Con giúp ta đếm đi."
Chúng tôi có hàng ngàn mẫu đất trồng dâu. Ở vùng Cổ Đương không xa đây lắm, cả mấy làng đều dựa vào gia tộc tôi để kiếm kế sinh nhai. Cha chăm lo cho những người trồng dâu, hái lá, nuôi tằm, kéo tơ, xe chỉ và dĩ nhiên là dệt vải nữa. Cha bảo tôi số tiền cần dùng cho mỗi xưởng và tôi bắt đầu cộng từng khoản vào.
"Hôm nay con có vẻ không như ngày thường," cha nói. "Con lo lắng điều gì vậy?"
Tôi không thể nói với ông về chàng trai mình đã gặp hay tôi đang băn khoăn không biết có nên gặp lại chàng ở Ngự Phong Đình không, nhưng nếu cha giúp tôi hiểu được bà nội và lựa chọn của bà thì có lẽ tôi sẽ biết nên làm gì đêm nay.
"Con vừa mới nghĩ đến bà nội. Có phải bà dũng cảm lắm đúng không cha? Bà có khi nào thiếu tự tin không ạ?"
"Chúng ta đã học truyện sử này..."
"Truyện sử, vâng, nhưng không phải là về bà nội. Bà là người thế nào ạ?"
Cha rất hiểu tôi và không như hầu hết các cô con gái, tôi cũng rất hiểu ông. Những năm qua, tôi đã học cách nhận biết những biểu hiện nhất định trên gương mặt ông: cách ông nhướn mày ngạc nhiên khi tôi hỏi về nữ sĩ này nữ sĩ nọ, cách ông nhăn nhó khi kiểm tra tôi về lịch sử mà tôi trả lời không đúng, cách ông trầm ngâm xoa cằm khi tôi hỏi ông một câu về Mẫu Đơn Đình mà ông không biết câu trả lời. Giờ đây ông nhìn tôi như thể đang cân nhắc giá trị của tôi.
"Người Mãn Châu đã thấy các tòa thành nối nhau sụp đổ," cuối cùng ông cũng nói, "nhưng họ biết rằng khi tới châu thổ sông Trường Giang, họ sẽ gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ từ các bậc trung thần. Họ đã có thể chọn Hàng Châu mà chúng ta đang sống đây, nhưng thay vào đó họ lấy Dương Châu nơi cha ta làm quan, để làm bài học cho các thành khác trong vùng."
Tôi đã nghe điều này nhiều lần và tự hỏi liệu ông có kể cho tôi điều gì tôi chưa biết không.
"Các vị tướng quân, vốn trước đó vẫn kiểm soát lính tráng ngặt nghèo, đã lệnh cho phép người của mình buông thả dục vọng và lấy đi bất cứ thứ gì chúng muốn, phụ nữ, tiền bạc, tơ lụa, đồ cổ và súc vật, để làm phần thưởng cho lòng cúc cung tận tụy của bọn chúng." Cha ngừng lại và vẫn nhìn tôi với vẻ định giá như thế. "Con có hiểu ta đang nói gì... về phụ nữ không?"
Hoàn toàn thật thà mà nói thì tôi không hiểu, nhưng vẫn gật đầu.
"Trong năm ngày, toàn thành vấy máu," ông tiếp tục một cách mệt mỏi. "Lửa thiêu rụi nhà cửa, sảnh đường, đền miếu. Có hàng ngàn hàng ngàn người chết."
"Cha không sợ chứ ạ?"
"Ai cũng sợ nhưng mẹ ta đã dạy cho chúng ta can đảm. Và chúng ta đã can đảm bằng rất nhiều cách." Ông lại chăm chú nhìn tôi như thể cân nhắc xem có nên tiếp tục không. Hẳn ông đã nhận thấy tôi chẳng hiểu gì, vì ông nhặt lên một xâu tiền rồi tiếp tục đếm. Không rời mắt khỏi những đồng bạc, ông kết luận, "Giờ con biết tại sao ta chỉ ưa nhìn cái đẹp, đọc thơ, viết thư pháp và xem kịch."
Nhưng ông chưa kể gì cho tôi về bà nội cả! Và ông chẳng nói điều gì giúp tôi quyết định việc đêm nay hay giúp tôi hiểu cảm giác của mình.
"Thưa cha..." tôi bẽn lẽn nói.
"Ừ," ông đáp mà không nhìn lên.
"Con vừa nghĩ đến vở kịch và bệnh tương tư của nàng Lệ Nương," tôi thốt lên một cách vội vàng hấp tấp. "Cha có nghĩ điều đó có thể xảy ra trong đời thực không ạ?"
"Nhất định rồi. Con đã nghe về nàng Hiểu Khánh rồi nhỉ?"
Dĩ nhiên là tôi nghe rồi. Nàng là thiếu nữ tương tư vĩ đại nhất từng thấy.
"Nàng ấy chết rất trẻ," tôi gợi ý. "Có phải vì nàng đẹp không ạ?"
"Xét trên nhiều khía cạnh, nàng ấy rất giống con," cha trả lời. "Nàng duyên dáng và tao nhã từ bản chất nhưng cha mẹ nàng là những quý tộc thất cơ lỡ vận. Mẹ nàng trở thành một gia sư nên nàng Hiểu Khánh được giáo dục rất tốt. Có lẽ là quá tốt."
"Nhưng làm sao mà ai đó được giáo dục quá tốt được chứ ạ?" Tôi hỏi và nghĩ về việc mình vừa làm cha vui thế nào khi thể hiện sự quan tâm tới các cuốn sách của ông.
"Khi Hiểu Khánh còn là một bé gái, nàng đã tới thăm một ni cô," cha đáp. "Trong một buổi, Hiểu Khánh tụng Bát Nhã Tâm Kinh mà không sai chữ nào. Nhưng khi Hiểu Khánh làm thế, ni cô kia đã thấy rằng vận mệnh của nàng không được tốt. Nếu cô bé này không đọc sách thì sẽ sống tới tuổi ba mươi. Bằng không..."
"Nhưng làm sao nàng lại chết vì tương tư được ạ?"
"Khi nàng mười sáu tuổi, một người ở Hàng Châu lấy nàn