inh rẻ
thường thấy ở những người tình thành nhìn bà con thô lỗ của họ Ở quê ra
thăm:
- Thằng Kinh Tử đấy à ? Mày đến làm gì thế ?
- Tiểu điệt nhân có việc đi qua Kyoto, đến thăm di trượng.
- Láo !
- ...
- Mày trí trá lắm, ta lạ gì. Đừng tìm cách dối gạt. Ở Mimasaka người ta đuổi mày nên mày trốn lên đây chứ gì ?
Thạch Đạt Lang đứng sững. Hắn không ngờ dượng hắn lại có thái độ như vậy.
Dưới ánh đèn lờ mờ, dì hắn ngồi lặng thinh trong góc phòng, đầu hơi cúi.
- Mày giết người, dụ dỗ con dâu người ta, làm bại hoại gia phong, thật
đáng xấu hổ, bây giờ còn đến đây định bêu xấu chúng ta nữa ư ?
Nói xong dượng hắn thở hổn hển. Dường như câu nói dài và sự tức giận làm ông mệt nhọc, ông giơ tay đỡ ngực. Thạch Đạt Lang buồn rầu, tuy biết bị hàm oan nhưng trước cảnh ấy không giữ được lòng thương xót.
- Thưa di nương di trượng, tiểu điệt biết đã làm nhiều điều không phải, nhưng bấy giờ tiểu điệt còn dại. Bây giờ xin sửa đổi.
Ông lão hình như không để ý đến lời hắn nói. Ông ngồi xuống chiếu tiếp tục mắng nhiếc:
- Dân làng ruồng bỏ mày, chắc mày phải bỏ đi cũng vì thế. Gieo gió gặt bão, ông Mưu Ni Sai dưới mồ hẳn không được nằm yên.
Thạch Đạt Lang thấy di trượng, di mẫu tỏ ra phiền lòng và giận dữ quá, bèn cáo thoái:
- Thôi, tiểu điệt chỉ đến để chào di trượng và di mẫu. Bây giờ xin cho tiểu điệt được kiếu ...
- A ! Không được ! - Ông Mã Xuyên giận dữ cắt ngang - Mày không đi bây
giờ được. Mày biết ai đợi mày ngoài ấy không ? Mụ Hồ Điểu. Mày mà gặp
mặt mụ thì phiền lắm.
- Ô ! Bà Hồ Điểu đến đây ư ?
- Chứ gì nữa. Tháng trước mụ tới đây, kể cho chúng ta nghe hết về mày.
Nếu không phải vì tình huyết nhục thì ta đã trói mày giao cho mụ ấy rồi. Nhưng mày là cháu, chúng ta nghĩ tình đối với ông Mưu Ni Sai và mẹ mày
nên giữ mày lại. Mày nên đợi đến khuya hãy trốn đi.
Thạch Đạt Lang buồn phiền khôn tả, biết có trần tình cũng vô ích nên chỉ ngồi cắm mặt xuống đất. Những lầm lỗi của hắn trong tuổi thiếu thời
không ngờ đã bị bà Hồ Điểu thổi phồng lên và đã gieo vào lòng di mẫu và
di trượng hắn một ấn tượng xấu xa đến thế.
Dì hắn nhìn hắn thương hại, bảo hắn ra nhà sau nằm nghỉ. Một mình trong
bóng tối, dựa lưng vào đống củi, một lần nữa, Thạch Đạt Lang lại thấm
thía nỗi đơn độc của mình. Hắn cởi cây gươm đeo bên sườn, vuốt nhẹ lên
bao gỗ nhẵn bóng. Cảm giác mát rượi của vỏ gươm làm hắn thoải mái như
những lời an ủi của người bạn cố tri.
Thạch Đạt Lang ngồi đã lâu, không một ai hỏi han gì. Không khí trong vựa củi ẩm ướt lạnh tanh. Đói, mệt và buồn ngủ, hắn thiếp đi lúc nào không
biết.
Tiếng chuông giao thừa đổ hổi làm Thạch Đạt Lang bừng thức giấc. Năm mới rồi, năm mới rồi đấy ! Giấc ngủ vừa qua đã đem lại cho hắn sự sảng
khoái. Tâm trí lâng lâng thư thái, những bắp thịt sau một thời gian nghỉ ngơi như được dãn nở thêm ra và một luồng sinh lực mới chu lưu khắp
thân thể.
Thạch Đạt Lang đứng dậy vươn vai. Chuông chùa vẫn thong thả buông những
tiếng ngân nga, uy nghi đĩnh đạt, đủ một trăm lẻ tám tiếng cho một trăm
lẻ tám mê vọng của người đời, mỗi tiếng là một lời nhắc nhở họ về tính
chất phù ảo của kiếp nhân sinh.
Thạch Đạt Lang tự hỏi có bao nhiêu người trong đêm nay, cái đêm trừ tịch này, đã nói được:
“Ta đã làm xong điều ta phải làm, ta chẳng có điều gì hối tiếc”. Riêng
đối với hắn, mỗi tiếng chuông lại làm hắn rùng mình nghĩ đến những tư
tưởng, những hành động xấu xa hắn đã phạm phải trong năm qua, năm trước
và những năm trước nữa.
Không năm nào không có những điều hắn không hối tiếc. Người đời thay vợ
đổi chồng, đối đãi với tổ tiên, cha mẹ, anh em, con cái, ai dám tự hào
đã không có điều gì xúc phạm ?
“Ta vẫn tự nhủ:
nhất định không mong nhờ ai điều gì mà sao vẫn còn hy vọng ở họ lòng
thương yêu ? Thật là ngu xuẩn và dại dột. Ta phải quyết tâm và ghi điều
này lên giấy mới được !”. Thạch Đạt Lang mở hành trang, lấy ra một mẩu
nến, đánh lửa thắp lên rồi rút ra quyển sổ giấy đã vàng trong đó hắn ghi những điều nhận xét về võ công, về địa lý cũng như những ý tưởng hỗn
độn của hắn trên bước đường giang hồ, kèm theo với cây bút nhỏ. Hắn nhổ
nước bọt vào cái nghiên con, mài mực, viết câu khai bút:
“Ta muốn không có điều gì phải hối tiếc”. Nhưng viết thôi, không đủ, hắn cần tìm một câu ngắn, gọn, ý nghĩa súc tích như một thành ngữ để có thể nhắc đi nhắc lại hàng ngày. Có thế hắn mới không quên. Bèn sửa:
“Ta sẽ không hối tiếc những điều ta làm”. Nhưng vẫn chưa vừa ý, hắn lại sửa lần nữa:
“Không làm những gì phải hối tiếc”. Thạch Đạt Lang lẩm nhẩm nhắc đi nhắc lại câu này giữa những tiếng chuông lớn ngân nga và những tiếng chuông
nhỏ đổ hồi báo hiệu một năm mới vừa điểm.
Cửa lùa xịch mở. Dì hắn thò đầu vào và nói, giọng run run thì thầm:
- Kinh Tử ! Mày ở đây không được nữa rồi. Mụ Hồ Điểu đến ngoài kia và
đòi chúng ta phải điệu mày ra. Chúng ta đã nói mày không có đây nhưng mụ không nghe. Đầu năm, đừng để xảy ra chuyện không hay.
Giọng bà dì hạ thấp hơn:
- Kinh Tử, trốn đi mau. Dượng mày đang giữ mụ ngoài nhà khách.
Bà lẻn vào, cầm nón đội lên đầu Thạch Đạt Lang và đẩy hắn r