nay chúng thấy người có võ công cao nhất trong c ác đạo quân Kinh-Bắc là Ðặng Vinh bị bại dưới tay thích kh ách, mà Minh-Ðệ lại thắng y, thì hẳn võ công nàng cao thâm hơn Ðặng Vinh rất nhiều.
Sau ít hiệp, Minh-Ðệ nhận thấy một điều lạ là, rõ ràng lúc đầu công lực thích kh ách cao hơn nàng. Nhưng càng về sau, công lực y càng giảm thực mau lẹ.
Thình lình Minh-Ðệ đ ánh liền ba chiêu, thích kh ách đỡ được hai chiêu, đến chiêu thứ ba thì y loạng choạng muốn ngã. Minh-Ðệ tiến lên đ ánh một chỉ vào ngực y. Lập tức y ngã ngồi xuống.
Mấy viên vệ sĩ nhảy tới trói y lại. Ðặng Vinh giật chiếc khăn che mặt của y ra, mọi người đều bật lên tiếng kêu kinh hãi. Vì y chính là Ðoàn Quang-Minh, đại đệ tử của trường Trung-nghĩa.
Năm trước đây, lộ Kinh-Bắc tổ chức cuộc thi để tuyển võ quan, Ðoàn Quang-Minh đỗ đầu, nhưng y nhất quyết không ra làm quan. Y nói: chí của y là tiêu dao mây nước, xin ở hương đảng để giúp sư phụ huấn luyện đàn em. Vì trong lộ Kinh-bắc có đến mấy chục võ quan xuất từ trường Trung-nghĩa, nên y thường ra vào trong quân, mà không ai nghi ngờ gì cả.
Phạm Anh vẫy tay cho quân sĩ giải t án. Ông bảo Ðặng Vinh:
- Tướng quân đưa đại sư huynh vào công đường để lấy cung.
Trong công đường chỉ có vợ chồng Phạm Anh cùng Ðoàn Quang-Minh, Ðặng Vinh và Minh-Ðệ. Ðoàn Quang-Minh tỏ ra không sợ hãi. Y nói với Phạm Anh:
- Xin Kinh-lược-sứ cho mọi người ra ngoài, chỉ để mình Yến-Loan cô nương ở lại mà thôi.
Phạm Vinh cùng phu nhân kinh-lược sứ với đ ám vệ sĩ ra ngoài. Ðoàn Quang-Minh bảo Minh-Ðệ:
- Cô nương. Ta tuy bại dưới tay cô nương, nhưng ta không phục. Cô nương thử bình tâm mà xét xem có đúng thế không? Rõ ràng lúc mới đấu, công lực ta cao hơn cô nương, nhưng về sau, dường như ta bị trúng độc, nên chân khí bị hao tổn, mới bị cô nương bắt.
Y nhìn Minh-Ðệ mỉm cười:
- Cô nương, xin cô nương hãy móc trong túi áo ta, lấy tấm thẻ bài của ta đưa cho Kinh-lược-sứ coi.
Minh-Ðệ lần túi Ðoàn Quang-Minh, nàng lôi ra c ái thẻ bài bằng bạc, rồi trình cho Phạm Anh. Phạm Anh cầm lên đọc:
"Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân, tước Hoài-đức hầu Ðoàn Quang-Minh thuộc Khu-mật-viện Ðại-Việt".
Ðính kèm một tờ giấy có in con rồng uốn khúc và con chim âu, quốc huy của Ðại-Việt. Bên dưới có hàng chữ:
"Nay đặc sai tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân, Hoài-đức hầu Ðoàn-quang-Minh đi kinh lý một giải từ Kinh-Bắc tới Thanh-hóa. B ách quan văn võ từ cấp Kinh-lược sứ phải tuân lệnh điều động".
Dưới có đóng ấn của Khu-mật-viện.
Thời bấy giờ vào lúc cực thịnh của triều Lý. Vua Th ái-tổ, Th ái-tông đã xây xựng nền móng cai trị bằng từ bi b ác ái của đức Thế-tôn, bằng nhân-nghĩa của Khổng-Mạnh. Chương-th ánh Gia-kh ánh hoàng đế (tức Lý Th ánh-tông) vì mồ côi mẹ từ nhỏ, được mẹ kế là Mai hậu nuôi dưỡng, được chú là Khai-Quốc vương phụ chính; thầy dạy văn là Dương Bình, Lý Ðạo-Thành, thay nhau huấn luyện. Ngài lại ảnh hưởng của chị g ái là vua bà Bình-Dương, chị họ là tiên cô Bảo-Hòa... Nghĩa là bao nhiêu nhân vật đạo đức nhất, tài hoa nhất đương thời hết sức dạy dỗ, hết sức yêu thương. Nên từ khi tiếp ngôi trời (3-11-1054) đã lấy niên hiệu là Long-thụy Th ái-bình. Sau khi đăng cực, chiếu chỉ đầu tiên mà ngài ký là đại x á cho tất cả tù nhân dù thành án hay chưa, bỏ c ác hình chặt chân, chặt tay; bỏ luôn hình phạt dìm tội nhân xuống sông hay đốt chết. Những hình phạt này còn sót lại từ thời Ðinh. Ðối với việc tra khảo, ngài cấm dùng cực hình nung sắt đỏ, nung đ á đỏ rồi dí vào tội nhân.
Theo lễ gi áo của Nho-gia, thì khi vua Th ái-tông băng hà, một đại thần được cử để lo việc tang chế, xây lăng. C ác bà vợ từ Hoàng-hậu, thứ phi cho đến c ác cung nữ phải cư tang cho đến hết đời trong cung cấm. Một số c ác bà phi, cũng như cung nữ phải ra ở trong những gian nhà tại lăng vua để ngày đêm tế lễ. Thế nhưng chiếu chỉ thứ nhì của ngài là đem toàn thể cung nữ ở cung Thúy-hoa gả cho c ác văn quan, võ tướng chưa vợ, hoặc góa vợ. Ðiều này làm nhiều Nho-gia phê ph án rằng không đúng đạo lý của Khổng-Mạnh.
Ngài lại trọng dụng c ác quan võ giỏi văn học. Dương Bình, được phong là Th ái-phó kiêm Thị-trung, Thượng-thư tả bộc xạ, Môn-hạ thị lang (Tả tể tướng). Lý Nhân-Nghĩa làm Tư-không, Thượng-thư hữu bộc xạ, Trung-thư thị lang (Hữu tể tướng), Khu-mật viện sứ. Qu ách Kim-Nhật được phong Th ái-úy, Tham-tri chính sự (phó Tể-tướng)... với ý muốn xây dựng Ðại-Việt thành một nước phú cường, với đội quân thực mạnh. Nhưng sau nghe lời chú là Khai-Quốc vương, ngài trọng dụng thêm c ác văn quan như Bùi Hựu làm Trung-thư thị lang, Ðồng-trung thư môn hạ bình chương sự, Văn-minh điện đại học sĩ. Dương Ðạo-Gia làm Khu-mật-viện phó sứ, Tham tri chính sự. Tất cả c ác đại thần đều là những người văn mô, vũ lược.
Ngài là một nhân quân bậc nhất trong lịch sử Việt-Nam. Năm sau, Ất-Mùi (1055), th áng mười, gặp rét dữ dội, ngài ban chỉ: "Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ