hành Phật-gi áo Ðại-Việt rồi. Chả vậy mà trong việc ph á c ác chư vương khởi loạn, Quốc-sư Huệ-Sinh đã đổi hẳn hành động, nên mới có việc chém c ác trưởng lão bang Nhật-Hồ, rồi Ưng-sơn giết Ðinh phi, tiên cô Bảo-Hòa giết Hồng-Phúc, rồi Thông-Mai giết mấy người họ Dương ở Bắc ngạn. Ta nghĩ, phải dùng một phần triết lý của Nho, hợp với Phật, hợp với chủ đạo sẵn có, thành một chủ đạo mới của tộc Việt. Có như vậy mới mong giữ được nước. (2)
Ghi chú:
(2) ÐVSKTT, Lý kỷ, Th ánh-tông kỷ, chép: Niên hiệu Thần-vũ năm thứ hai(1070) Canh Tuất, mùa Thu th áng t ám, vua cho dựng Văn-Miếu, đắp tượng Khổng-tử, Chu-Công, Tứ-phối (Nhan-Uyên, Tăng-Sâm, Tử-Tư, Mạnh-Tử), vẽ tượng Thất-thập nhị hiền (72 cao đồ của Khổng-Tử). Người sau ai cũng kinh ngạc, vì từ vua Th ái-tổ, Th ái-tông cho đến Th ánh-tông đều phong cao tăng Phật-gi áo làm Quốc-sư. Chính vua Th ánh-Tông cũng là một Phật-tử thuần thành. Nho-gi áo thường bài xích Phật-gi áo thế mà bỗng chốc nhà vua trọng Nho. Không ai hiểu tại sao cả. Duy độc giả Nam-Quốc sơn hà biết rõ chính là Yến-Loan. Vì sau này Yến-Loan thành Ỷ-Lan thần phi, đã khuyên vua trọng Nho, để hợp Nho với Thích thành một chủ đạo dân tộc, một vũ khí giữ nước, một triết lý văn hóa hiếm hoi trên thế giới.
Nàng ngồi đem những s ách của Nho thần đời H án, đời Ðường, cùng c ác danh Nho Tống mới đây ra đọc. Nàng đọc những s ách về Giả-Nghị (3). Ðổng Trọng-Thư, Lưu Hướng, Vương Sung.
Nàng ngồi đem những s ách của Nho thần đời H án, đời Ðường, cùng c ác danh Nho Tống mới đây ra đọc. Nàng đọc những s ách về Giả-Nghị (3). Ðổng Trọng-Thư, Lưu Hướng, Vương Sung.
Ghi chú:
(3) Giả-Nghị, người đất Lạc-dương đời H án. Sinh năm 200 trước Tây-lịch, mất năm 168 trước Tây-lịch. Ông là tư tưởng gia, làm chức B ác-sĩ, cố vấn cho vua H án Văn-Ðế. Bộ mà Yến-Loan đọc là bộ s ách chú thích, giảng giải về hai t ác phẩm của Giả-Nghị "Tần chính sự" và "Qu á Tần luận".
Ðổng trọng-Thư, (190-105 trước Tây-lịch), đại tư tưởng gia đời H án; làm chức B ác-sĩ đời vua Cảnh-Ðế nhà H án. Bộ Yến-Loan đọc là bộ "Xuân-Thu phồn lộ" và "Văn tập".
Lưu-Hướng (77-6 trước Tây-lịch), tôn thất nhà H án. Ông là đại tư tưởng gia, đại văn hào, ông cùng với nhóm thuộc hạ đã trứ t ác, biên khảo đến hơn haimươi t ác phẩm.
Vương-Sung (27-107 sau Tây-lịch), đại tư tưởng gia đời H án. T ác phẩm có bộ Luận-hành 85 thiên, Luận-tính 16 thiên.
Hôm sau, Thường-Kiệt hỏi về những võ công mà Minh-Ðệ đã học được, nàng cứ sự thực khai hết. Sau khi khai, nàng xin Thường-Kiệt dạy nàng về khoa điểm huyệt. Thường-Kiệt chấp nhận liền. Minh-Ðệ vốn đã có căn bản về kinh lạc, huyệt vị. Nên Thường-Kiệt chỉ dạy có ba tối, nàng đã thông thạo.
Vào một buổi chiều, khi trời vừa tối, thì có th ái gi ám ra tuyên triệu Thường-Kiệt triều có chuyện khẩn. Thường-Kiệt dặn nàng:
- Muội muội cứ ở nhà, trong chín nữ đệ tử của huynh, có tên là Phương-Lý, Phương-Cúc, Phương-Huệ, Phương-Liễu, Phương-Ðơn, Phương-Tiên, Phương-Dược, Phương-Quế, Phương-Quỳnh; chín nam đệ tử có tên là Anh, Hùng, Hào, Kiệt, Nhân, Nghiã, Lễ, Trí, Tín, muội muội muốn sai bảo gì, cứ gọi chúng. Chiều nay muội muội ăn cơm với 18 đệ tử của huynh.
Nói rồi ông lấy ngựa lên đường.
Khi mặt trời ngả bóng về Tây, thì một hồi trống đ ánh lên, ngoại đồ lục tục ra về. Cổng dinh đóng lại. Trong dinh chỉ còn mười t ám nội đồ. Minh-Ðệ nhận thấy Thường-Kiệt không dùng nhiều tôi tớ như những đại thần kh ác, nhất là không dùng lính g ác. Trong dinh chỉ có năm người làm vườn, năm mã phu, cùng với đ ám nhà bếp hơn mười người nữa. Quản dinh là Dư bà, người nuôi sữa Thường-Kiệt hồi nhỏ, nay Thường-Kiệt đem về phụng dưỡng tuổi già.
Cơm chiều xong, Minh-Ðệ dạo chơi quanh c ái hồ trước dinh, cùng vườn hoa. Nàng muốn tìm một chỗ nào yên tĩnh, để ngồi chịu cơn đau đớn, mà không ai biết. Dạo hết một vòng dinh, nàng đã tìm ra chỗ dàn hoa lý với mấy bụi móng rồng là khuất khúc nhất. Chỗ này có c ái ghế dài. Nàng định khi cơn đau t ái ph át, nàng sẽ núp vào đây mà chịu trận. Nàng tự hứa:
- Ðúng ra ta phải hiếu với sư phụ. Sư phụ bảo ta trộm tâm ph áp cho người, mà ta trộm thì thành ra ta lâm vào tình trạng bất hiếu như ngài Tăng-tử xưa kia sao? Nhất định ta chịu chết chứ không thể trộm tâm ph áp, mà thành bất hiếu với sư phụ, bất nghĩa với sư huynh.
Bỗng nàng nghĩ tới Quan-Âm:
- Hay ta tụng Quân-Âm cứu khổ, cứu nạn cho ta vậy. Ai cũng bảo Quan-Âm là người sống, chứ không phải Phật bà. Sư huynh đối với ta tử tế thế này là biết ta cùng học ở Quan-Âm với người. Nhưng Quan-âm là ai? Không lẽ Quan-Âm là tiên cô Bảo-Hòa? Mình nghe nói Tiên-cô mặc áo xanh, quần trắng, hoặc áo nhung đỏ quần trắng chứ đâu người có mặc áo trắng? Vả Tiên-cô là chưởng môn ph ái Tản-viên, sao người lại dạy tâm ph áp Mê-linh cho ta? Thực khó hiểu?
Bất gi ác nàng cất cao giọng tụng kinh Quan-Thế-Âm.
Tụng xong, nàng ngồi xuống c ái ghế cạnh bụi hoa dạ hương, rồi ngẩn người suy nghĩ về Quan-Âm, về vợ chồng quý nhân, về Tự-An. Một l át nàng ngửng mặt lên, thì thấy một người đàn ông mặc quần áo Nho sinh, đứng tần ngần c ách nàng mấy trượng, đang nhìn