thầy ?
- Thì để cho hắn khỏi bị giết chứ sao ! Nam mô a di đà Phật, lòng hiếu
sinh và hiếu sát của gã thiếu niên ấy thật ghê gớm. Họ đi tìm giết hắn
thì hắn phải tự vệ ...
- Nếu hắn về làng này giết người thì thầy phải làm sao ?
Đại Quán ngồi yên không đáp. Mây đen đùn lên từng đám che khuất cả đỉnh núi.
Oa Tử mở cửa phòng, đặt cuộn thư lên chiếc bàn thấp, định ngồi xuống bồ
đoàn đọc cho yên tĩnh. Liếc nhìn khung cửi, một tấm lụa còn đang dệt dở. Từ năm ngoái, Oa Tử đã ươm tơ định dệt một tấm kimono cho Mãn Hà Chí,
với lòng thành khẩn mong mỗi đường tơ sẽ là một sợi dây ràng buộc nàng
với vị hôn phu thêm bền chặt. Và nàng thầm ước tấm áo đừng bao giờ hư
rách. Nhưng Mãn Hà Chí đã bỏ đi dự trận Sekigahara, và đến bây giờ vẫn
không tin tức.
Oa Tử đăm chiêu nhìn cuộn giấy trên bàn rồi băn khoăn tự hỏi:
“Chẳng biết thư của ai ?”.
Nàng đọc đi đọc lại địa chỉ nhiều lần, sợ nhầm lẫn. Nhưng rõ ràng thư đề tên nàng, địa chỉ là chùa Tiểu Sơn, làng Miyamoto. Giấy bọc ngoài sờn
rách nhem nhuốc nước mưa và vết tay chứng tỏ nó đã được chuyển qua nhiều trạm.
Oa Tử bật dấu niêm, thấy rơi ra hai mảnh giấy. Mảnh thứ nhất mang bút tự của một thiếu phụ nàng không quen và có lẽ nhiều tuổi hơn nàng:
“Thiểm nữ viết thư này để xác nhận những điều Mãn Hà Chí nêu trong thư kia là đúng nên không nói rõ chi tiết.
Xin thông cảm. Thiểm nữ đã thành hôn với Mãn Hà Chí và coi Mãn Hà Chí
như người nhà. Nhưng thấy anh ta còn áy này về cô nên phải gửi thư này.
Đường đời mỗi người một ngả, mong cô nương hãy quên người cũ. Vạn cảm.
Ôkô“.
Oa Tử tái mặt, tay run run mở mảnh giấy kia. Rõ ràng bút tích của Mãn Hà Chí, vị hôn phu nàng. Trong thư, Mãn Hà Chí kể lể tại sao hắn không về
làng được và xin rút lại lời hứa hôn để nàng có cơ hội đi lấy chồng
khác. Mãn Hà Chí còn nói thêm hắn không dám gửi thư cho mẹ vì khó viết
quá và nhờ Oa Tử chuyển lời nói với bà cụ hắn vẫn khỏe mạnh và hiện đang cư ngụ tại một tỉnh khác.
Đọc xong hai lá thư, Oa Tử bủn rủn cả chân tay, mắt đờ ra không chớp mà
cũng không khóc. Những ngón tay cầm thư trắng bệch tựa da người chết
nàng vừa thấy cách đây một lúc.
Thời gian trôi qua. Người làm trong bếp chẳng biết nàng đi đâu. Viên đội trưởng để thuộc hạ ngủ trong rừng, một mình trở về chùa đòi được cung
phụng những tiện nghi xứng với cấp bậc của hắn. Nào nước tắm phải vừa
nóng, món cá tươi mới bắt ở sông lên phải nấu cho khéo hợp với khẩu vị
và rượu sa-kê phải là thứ ngon nhất xóm. Hầu hạ đội trưởng công phu lắm, dĩ nhiên Oa Tử phải gánh một phần trách nhiệm, nhưng bây giờ chẳng biết nàng ở đâu thành ra bữa ăn tối của đội trưởng bị trễ.
Đại Quán đi tìm Oa Tử chẳng phải vì quan tâm gì đến bữa ăn sớm hay muộn
của viên đội trưởng nhưng vì lo cho Oa Tử. Chưa bao giờ Oa Tử đi đâu lâu mà không nói cho chùa biết. Đại Quán băng vườn sau, vừa đi vừa gọi.
Nhiều lần qua phòng dệt thấy cửa đóng, ông cũng sơ ý không nhìn vào.
Sư cụ lộ vẻ hoảng hốt:
- Mô Phật ! Không thấy nó trong chùa. Hay thầy sai người xuống chân núi xem sao.
Nếu không có nó đứng hầu, đội trưởng không chịu uống rượu.
Đại Quán sai người cầm đèn xuống núi nhưng đồng thời cũng tự đi lục soát khắp chùa một lần nữa. Lần này ông không quên mở cửa ngó vào phòng dệt. Cảnh tượng bên trong làm ông giật mình:
Oa Tử gục đầu trên khung cửi, bất động. Đại Quán rón rén bước vào phòng, đứng lặng nhìn hai phong thư nhàu nát vật dưới đất như bị giầy xéo lên
chẳng khác gì những hình nhân bằng giấy sau buổi cúng cháo thí. Nhà sư
nhặt những phong thư, dịu dàng bảo Oa Tử:
- Có phải thư sáng nay không con ? Sao không cất đi ?
Oa Tử lắc đầu mệt mỏi.
- Ai cũng lo không biết con đi đâu. Ta đã tìm khắp nơi mà không thấy.
Thôi, lên chùa đi. Ta biết con không thích nhưng con còn nhiều việc phải làm như hầu cơm đội trưởng chẳng hạn. Sư cụ đang cuống lên vì con đó !
- Con nhức đầu lắm ... Thưa thầy con muốn được yên tĩnh ... chỉ tối nay thôi.
Đại Quán thở dài:
- Thực ra ta nghĩ con chẳng có bổn phận gì phải hầu đội trưởng, dù tối
nay hay bất kỳ tối nào khác. Nhưng sư cụ không nghĩ vậy. Người phải lo
việc thế tục lại không đủ uy đức làm cho họ nể và giúp đỡ cho nên người
thấy có bổn phận phải chăm sóc đội trưởng.
Và Đại Quán nhẹ nhàng vỗ vai Oa Tử:
- Sư cụ là người đã cưu mang con, tất nhiên con phải đền đáp. Mọi người đang đợi... Thôi, con lên chùa đi.
Oa Tử bất đắc dĩ đứng dậy. Mắt còn ngân lệ, nàng ngập ngừng nói:
- Con sẽ đến đó, nhưng thầy phải ở lại với con.
- Ta không thấy trở ngại. Có điều thằng “râu bàn chải” ấy chẳng ưa gì
ta, mà mỗi khi thấy nó, ta chỉ muốn bảo thẳng vào mặt nó là bộ râu nó
làm ta phì cười. Thật trẻ con, nhưng có những người làm ta có cảm giác
như vậy !
- Con không muốn đến đó một mình.
- Sư cụ cũng ở đó mà !
- Vâng, nhưng mỗi khi con đến người lại bỏ đi.
- Hừ, vậy không tốt. Thôi để ta cùng đi với con. Bây giờ ra rửa mặt đi.
Khi Oa Tử lên đến chùa, viên đội trưởng đã ngà ngà say. Thấy nàng, nét
mặt hắn tươi hẳn lên. Hắn sửa lại vành mũ lệch và đòi chuốc thêm rượu.
Nhưng niềm vui của hắn không trọn vì có Đại