oa cắt vừa khéo rồi đó, em cắm vào lọ đi !
Ả nữ tỳ ra khỏi phòng, Thạch Đạt Lang ngắm mãi bông hoa. Hắn rút hoa, so sánh hai vết cắt ở cuống, ngồi thừ người ra suy nghĩ. Hắn chắc đóa hoa
này đã được ngắt không phải bằng dao mà bằng kiếm. Mẫu đơn thân thảo,
cuống nó mềm và dai, phi một tay kiếm tuyệt luân dùng một lưỡi lưu cầu
cực mỏng chém thì không thể nào có được vết cắt ngọt và gọn như thế !
Bất kỳ ai ngắt bông hoa này cũng không phải là người tầm thường. Cầm
nhánh hoa trên tay, hắn rút kiếm đánh soạt. Kiếm quang vừa tắt, một đoạn cuống hoa lại rơi xuống. So sánh vết cắt mới với vết cắt trước thấy vẫn còn thua xa, như những nét khắc trên pho tượng Phật của một nghệ sỹ tài ba và điêu luyện bên nét chạm thô lậu của một pho tượng bán ở chợ.
“Nếu một điền tốt giữ vườn nhà Trúc Mộ mà còn làm được như thế này thì
quả thật Trúc Mộ kiếm danh bất hư truyền, ta không bì kịp”. Tự nhiên hắn không còn tự tin nữa.
“Vô ích ! Mình chưa sẵn sàng !”. Nhưng tuổi thanh niên và lòng quyết
thắng của hắn lại như một làn gió mạnh đánh tan mọi ý tưởng chán nản.
Thạch Đạt Lang hy vọng và tự nhủ:
“Nếu không thắng được, ta có thể bỏ mạng ở đây, nhưng biết đâu ! Ừ biết
đâu ta sẽ không học hỏi được nhiều điều chưa ai dạy ta nổi !”.
Nhìn bông mẫu đơn trắng cắm đơn độc trên bàn, Thạch Đạt Lang mường tượng đến bộ mặt một người. Vẻ thanh tao tươi mát của bông hoa gợi cho hắn
một niềm thoải mái nhưng cũng mang theo nỗi bâng khuâng tiếc nhơ vu vơ.
oo Trên đường trở lại thảo thất, Oa Tử ngồi trên lưng ngựa, khe khẽ hát
một khúc dân nhạc. Nàng còn trẻ, trong khung cảnh hiền hòa như cảnh Trúc Lâm cốc ngày hôm ấy, bản tính hồn nhiên của Oa Tử dễ dàng bộc lộ. Nàng
đong đưa theo bước chân ngựa trên đường đồi, vó ngựa đều đều đệm nhịp
cho giọng hát. Gần tới Trúc Mộ thất, đột nhiên tiếng động bên bờ suối
làm Oa Tử giật mình. Một đứa trẻ từ bụi rậm sau ghềnh đá nhảy ra chạy
theo ngựa. Nàng hơi ngạc nhiên vì trẻ con trong làng thường nhút nhát,
ít có đứa dám đến gần phụ nữ. Nàng dừng ngựa quay lại nhìn.
Giang trần như nhộng, tóc ướt sũng nước, hai tay ôm bọc áo trước bụng,
toét miệng cười. Nó thản nhiên như không để ý gì đến sự trần truồng của
mình, kêu lớn:
- Đúng rồi ! Cô là cô nương thổi sáo ! Cô nương ở đây đấy hả ?
Oa Tử nhìn Giang, ngượng ngùng quay đi chỗ khác, nói:
- Phải. Em là cậu nhỏ ta gặp đứng khóc ở ven đường Yamoto chứ gì !
- Khóc đâu ? Em đâu có khóc !
- Ờ thôi, thì không khóc. Em đến đây từ bao giờ ?
- Từ hôm kia.
- Một mình hả ?
- Không, với sư phụ.
- A, ta nhớ ra rồi. Em nói đi học kiếm. Thế em làm gì ở đây mà quần áo không mặc vậy ?
- Cô nương muốn em mặc cả quần áo nhảy xuống suối sao ?
- Trời ơi, mùa này nước còn lạnh lắm, ai lại đi bơi bao giờ !
- Em không bơi, em tắm. Sư phụ bảo hôi quá nên em đi tắm đấy chứ !
Oa Tử bật cười. Thằng bé vẫn chất phác và lém lỉnh như độ nào.
- Thế em ở đâu ?
- Ở quán Mãn Ý.
- Ô, ta cũng vừa ở đấy ra.
- Tiếc quá ! Thế mà cô nương chẳng đến thăm sư phụ em. Hay bây giờ cô nương trở lại đấy đi !
- Không được, ta phải về có việc.
- Vậy thôi, em cũng đi đây.
- Này em, khi nào rảnh vào cốc chơi nhé !
Nhưng nói xong Oa Tử lại hối. Nàng chưa biết rõ gốc gác Giang ra sao và sư phụ nó là ai ...
- Nhưng nhớ phải mặc quần áo tề chỉnh đấy !
- Vậy em không đến đâu ! Em ghét tới những nơi kiểu cách lắm.
Giang bỏ đi rồi, Oa Tử cho ngựa thong dong bước một về thảo thất. Qua
cổng chính, nàng dẫn ngựa vào chuồng trao cho mã phu rồi đến ngay Trúc
Mộ thất trình bày tự sự.
Trúc Mộ lão cười đáp:
- Ta biết chuyện đó tất phải xảy ra. Tính họ như vậy, chẳng phải lỗi ở họ. Còn bông mẫu đơn, cô nương vất đi rồi chăng ?
- Tiểu nữ thấy có người trong quán thích nên đã cho họ.
- Cũng được, chẳng sao. Hoa Sơn Điền Chính có xem kỹ bông mẫu đơn không ?
- Dạ có. Khi Điền Chính đọc thư, cầm bông mẫu đơn ngắm rồi trả lại, ông
ta có vẻ giận, không hiểu vì sao tiền bối lại tặng hoa và nói tại Kyoto
nhà ông có trồng rất nhiều loại hoa ấy.
- Hắn không xem vết cắt ở cuống hoa sao ?
- Dạ, không thấy xem, mà cũng không đả động gì đến chuyện ấy.
Trúc Mộ lão nghiêm mặt:
- Ta không cho bọn hắn gặp là phải. Chúng không đáng để ta tiếp. Trúc Mộ gia từ nay không muốn liên quan gì với Hoa Sơn nữa.
oo Võ đường Trúc Mộ nằm ở phía tả Đại lâu, cách đại sảnh một cái sân
rộng. Võ đường thật đồ sộ, do chính tay Trúc Mộ Chính vẽ kiểu và đôn đốc xây cất khi ông còn trẻ, lúc khoảng tứ tuần. Bây giờ, sàn gỗ đã lên
nước bóng lộn và những cây cột lớn gỗ sồi đã đổi thành nâu sẫm, vân đen
nổi lên như gụ. Sau võ đường là hai dãy phòng lớn nhỏ nối với nhau ở hai mặt đông và tây. Khi hữu sự, những phòng này và cả võ đường có thể dùng làm nơi tạm trú cho tráng đinh họp lại bảo vệ cốc.
Sử Đà Chu An Môn ngồi ở một phòng lớn sau võ đường, chú ý giám sát hai
võ sinh đang tập luyện. Võ khí họ dùng không phải là thứ côn gỗ như
thường thấy, nhưng là một loại kiếm đặc biệt dài chừng sải tay, làm bằng nhiều thanh tre ghép lại và quấn da xung quanh. Kiếm không có lá chắn
cũng không có chuôi, trông tựa như