o cái gì thì cháy hết !”. Hắn nghĩ đến những ngôi cổ tự hoang phế tự nhiên bị thiêu rụi, một phần
chắc cũng vì những tên thiếu trách nhiệm, điên khùng như lão này cả.
Thấy lành lạnh, Mãn Hà Chí chạy ra ngoài nhặt cành khô đem vào nhóm lửa
rồi bó gối nhìn. Ánh sáng bập bùng làm căn phòng ấm và sáng thêm chút
đỉnh. Hắn ngước nhìn trần, cột kèo tuy cũ nhưng đẽo gọt tinh vi, có vẻ
trước đây là một ngôi đền chứ không phải tư thất. Ở góc phòng, đột nhiên hắn trông thấy một vật làm hắn reo lên mừng rỡ. Chẳng phải đồ cổ ngoạn
hay vật gì quý giá nhưng là một cái nồi đất đen xì, trên đậy tàu lá, bên cạnh là một hũ sành con mẻ miệng. Mãn Hà Chí đến mở nồi thấy có cơm,
bèn bưng cả ra bên đống lửa. Trong hũ sành còn một chút sa-kê, hắn bưng
hũ tu rồi thò tay vào nồi bóc cơm ăn. Bữa ăn chưa bao giờ ngon đến thế !
Ăn hết chỗ cơm, bụng mới hơi lưng lửng, Mãn Hà Chí nằm dài, giơ tay vươn vai khoan khoái. Sực nhớ đến điều gì, hắn vội nhỏm dậy, móc trong bọc
ra cái túi của gã thanh niên lẹm cằm chết hồi chiều. Hắn mở túi dốc cả
ra sàn:
một cái lọ đen nhỏ xíu đựng thuốc, ít bạc vụn, một cái túi nhỏ nữa bằng
da thuộc màu đỏ tía và một vật mềm gói giấy dầu. Hắn cởi túi da ra xem.
Trong túi toàn tiền vàng, hắn không biết giá là bao nhiêu nhưng quả chưa bao giờ được cầm nhiều vàng như thế. Vừa mừng vừa sợ, tay run run, hắn
buộc ngay lại, nhét vội vào trong bọc mình, ngồi thừ người ra một lúc:
“Ơ ...
tiền này ... tiền này ... để rồi trả lại cho thân nhân gã !”.
Hắn lại nắn cái gói giấy dầu. “Không biết trong này đựng gì ? Chắc là
vật gì bí mật và quý giá lắm gã muốn mình mang về quê quán cho gã. Hay
thôi, chuyện bí mật của người ta, mình chẳng nên biết !”. Mãn Hà Chí
ngần ngại, cất đi rồi lại lôi ra mấy lượt.
Sau không dằn được tò mò, hắn run run mở gói giấy. Một tờ hoa tiên đã
vàng rơi ra, hắn trải tờ hoa tiên trước đống lửa, lẩm nhẩm đọc:
“Chứng thư, Võ đường Cổ Môn chứng nhận Cát Xuyên Mộc đã thụ huấn xong
toàn bộ giáo lý và kỹ thuật thuộc bảy môn học gia truyền của bổn kiếm
phái, gồm:
- Phần bí truyền:
Hoa vũ kiếm, xa luân kiếm, trảm nhạn kiếm.
- Phần công truyền:
Phiên phiên lưu thủy kiếm, khinh chủy vô hình kiếm, bằng dực song kiếm, truy hồn đoạt mệnh kiếm.
Vậy cấp cho Cát Xuyên Mộc chứng thư này để làm bằng.
Cổ Môn lâu, trọng đông năm quý ngọ, Chưởng môn:
Cát Đằng Cổ Tư Nhiễm Chúc”.
Cầm tờ chứng thư, Mãn Hà Chí biết được tên gã thanh niên lẹm cằm là Cát
Xuyên Mộc. Như vậy cũng đỡ cho hắn phải dò hỏi lôi thôi. Nhưng tên Cát
Xuyên Mộc và cả tên Cát Đằng Cổ Tư Nhiễm Chúc, người chưởng môn kiếm
phái Cổ Môn cũng không gợi cho hắn thêm được điều gì. Hắn chỉ biết Y Tô, người cũng theo kiếm phái Cổ Môn và nổi danh lắm, nhưng đâu có rõ Y Tô
còn là học trò Nhiễm Chúc.
“Thật đáng tiếc ! Một thanh niên nhiều triển vọng như vậy mà phải chết uổng !”.
Mãn Hà Chí gấp tờ chứng thư lại, gói cẩn thận vào giấy dầu rồi cất vào
trong bọc cùng với túi tiền của Cát Xuyên Mộc. Hắn đọc một bài kinh ngắn cầu cho linh hồn người chết được siêu sinh tịnh độ, tự hứa sẽ đem tiền
và chứng thư trao trả đầy đủ cho thân nhân gã rồi cởi áo nằm ngủ. Trong
lúc chập chờn, Mãn Hà Chí tưởng như nghe tiếng sáo nghẹn ngào của lão
khất cái điên dại văng vẳng trên đầu những ngọn lau lách xa xa. Trời hửng sáng, căn nhà hoang giữa rừng lau càng thêm tiêu điều, hiu quạnh.
Sương mù đọng trên mái chưa tan, gió sớm qua kẽ ván lùa hơi lạnh bên
ngoài vào gian phòng trống trải. Mây xám giăng ngang bầu trời nặng trĩu
và ảm đạm.
Thu đến rồi, đến thực rồi ! Nỗi u buồn bao trùm cả cảnh vật và len lỏi vào lòng người cô khách.
Đạo sĩ khất cái, lưng đeo sáo, tay xách bồ đoàn, chống gậy khập khiễng
trở về, tấm vải gai khoác trên lưng ướt đẫm sương đêm. Đến cửa, lão
dường như quá mệt, đặt bồ đoàn bên vách dựa lưng ngồi nghỉ, dáng thiểu
não chẳng khác gì một linh hồn phiền muộn. Cơn gió lạnh thổi qua, đạo sĩ hắt hơi luôn mấy cái, mũi rãi ròng ròng chảy xuống bộ râu lốm đốm bạc
lão cũng chẳng thèm lau, cứ ngồi thở dốc. Một lúc sau mới chống tay đứng dậy mở cửa bước vào nhà.
Việc đầu tiên lão nghĩ đến là hũ rượu, nhưng bước vào phòng, lão ngạc
nhiên không thấy đâu. Trong cảnh tranh tối tranh sáng của gian phòng đổ
nát chỉ có đống củi đã tàn, và bên cạnh, một người co quắp nằm ngủ. Đạo
sĩ giật mình, định thần nhìn. Hũ rượu mẻ miệng và nồi cơm vất lăn lóc
gần đó. Cúi xuống nhặt, lão ghé hũ sát vào tai lắc mấy cái:
không nghe tiếng gì, bình rỗng tuếch ! Chắc tên lang bạt này đã uống
rượu của lão. Hừ ! Đáng giận thật ! Cơm có thể bỏ qua, nhưng có chút
rượu để uống cho ấm bụng cũng tu hết thì thật tàn nhẫn. Không dằn được
cơn tức, lão co cẳng đá anh chàng nằm ngủ một phát như trời giáng.
Mãn Hà Chí choàng dậy, nhìn lão đạo sĩ.
- Ngươi là ai, sao vào đây uống rượu của ta ?
Mãn Hà Chí tỉnh hẳn ngủ, hắn nhăn mặt:
- Thế ra rượu của lão đấy hử ?
- Không của ta thì còn của ai ? Ai cho phép ngươi uống rượu ấy ?
- Trót mất rồi, đạo sĩ tha lỗi.
- Này trót !
Và bồi thêm một cước nữa.
- Cha ! Lão này dữ quá ! Ta xin lỗi rồi mà !
- Xin