hôn thê của bạn, có thân chăng cũng
chỉ như người em gái nhỏ đã một lần cứu hắn, hắn biết ơn, thế thôi ! Bây giờ chẳng biết làm sao, dù phải tự vệ, hắn cũng không thể nào rút gươm
chống lại hai người già kia, nhất lại là thân mẫu và cửu phụ của bạn mà
hắn biết chắc là võ công không thể nào là đối thủ của hắn được.
Thạch Đạt Lang đứng nhìn đám đông bao vây trước mặt, bối rối không tìm
ra cách giải quyết thỏa đáng. Mọi người đều về phe Hồ Điểu, coi hắn như
một tên sát nhân đáng ghê sợ và xấu xa, hắn không có cách gì biện minh
được. Phải chi Mãn Hà Chí có mặt ở đây, may ra mới hy vọng hóa giải được sự hiểu lầm này.
Bà Hồ Điểu lần xong chuỗi hạt, đã đứng dậy, giọng run run nhưng dáng điệu cương quyết, nói với đám xa phu:
- Ta vừa khấn Trời Phật phù hộ ta và cậu Ngô bắt tên nghịch tử này. Giờ
ta cám ơn tất cả anh em. Ta không cần ai giúp mà anh em cũng đừng nhiều
lời. Nếu chẳng may ta và cậu Ngô có mệnh hệ nào, xin anh em cứ đưa thi
thể chúng ta về Miyamoto, sẽ có người đền công xứng đáng.
Dứt lời, rút thanh đoản kiếm gia bảo do tổ phụ để lại mà bà đã cẩn thận
giắt theo trước khi lên đường, bà Hồ Điểu hướng về phía Thạch Đạt Lang
nói lớn:
- Thạch Kinh Tử ! Mày là Thạch Kinh Tử ở Miyamoto phải không ? Nghe nói
mày mới đổi tên gì hay lắm, nhưng ta không cần biết. Đối với ta, mày vẫn là thằng Thạch Kinh Tử dẫn con ta đi mất tích và còn dụ dỗ dâu ta nữa ! Bốn năm nay, giờ mới gặp ! Ta với mày một còn một mất. Hãy rút kiếm ra, thằng kia ! Ta đợi !
Cơn giận làm mặt bà đỏ gay, tiếng nói lạc đi, giọng cao the thé như xoáy vào tai, những nếp nhăn dưới cằm rung động, cổ bà bạnh ra tựa cổ rắn.
Hiển nhiên bà muốn trút hết niềm căm phẫn dồn nén từ lâu lên đầu địch
thủ trước khi giết hắn để trả hận.
Thạch Đạt Lang không nói gì. Hắn chẳng muốn phân trần, chỉ đứng yên như
pho tượng nhìn hai người. Cậu Ngô điềm tĩnh hơn. Tay cầm kiếm, cậu nói
với bà chị:
- Để tôi ...
- Không được ! Giọng bà Hồ Điểu dứt khoát. Thần Phật đã phù hộ ta, tiền
nhân đã ứng vào lưỡi gươm này, ta phải đích thân lấy đầu thằng nghịch
tử. Mày không rút kiếm ra cũng không cần, trông đây !
Bà vừa nói vừa giơ đoản kiếm chạy đến trước mặt Thạch Đạt Lang. Nhưng
rủi thay, vì quá vội, bà vấp ngã sóng soài chỉ trước mặt hắn có vài
bước, thanh kiếm văng sang bên cạnh. Mọi người kinh hãi, kêu lên:
- Chết rồi ! Nó giết bà lão mất !
Cậu Ngô sợ quá, đứng lặng như trời trồng. Một số xa phu vừa định ùa tới
thì may sao bà lão đã lồm cồm bò dậy, nhặt thanh kiếm chạy vội về phía
em. Bà hơi ngượng, nhưng lấy giọng giận dữ khỏa lấp:
- Cậu chẳng được cái tích sự gì ! Rút gươm ra cầm chơi đấy à, sao không chạy lại đâm cho nó một nhát ?
Thạch Đạt Lang bên ngoài mặt lạnh như tiền, nhưng trong lòng không khỏi
xúc động. Hắn thương bà lão và ông già, nạn nhân của bao nhiêu ràng
buộc, của những quan niệm hẹp hòi và lễ nghi phiền phức. Hắn tiếc chẳng
đủ thì giờ cùng uy tín đánh tan những ngộ nhận giữa hắn và gia đình Hồ
Điểu. Một ngày kia, biết đâu một ngày kia, cơ may nào đó cho hắn được
dịp biện bạch, thù hận sẽ qua đi, chỉ còn lại tình người nồng ấm như
thuở nào lúc còn thơ ấu, hắn vẫn sang chơi nhà Mãn Hà Chí, ăn cơm và làm giúp mẹ bạn những công việc lặt vặt trong nhà.
Thạch Đạt Lang lắc đầu tự nhủ:
“Không được ! Ta không thể làm thế được !”. Hắn hét lên một tiếng to như sấm động, mọi người giật mình, vòng vây vô tình dãn ra đôi chút. Hắn đi thẳng tới trước. Bà Hồ Điểu lắp bắp:
- Thạch Kinh Tử, mày đi đâu vậy ?
- Nó trốn đấy ! Nó trốn đấy !
Bà Hồ Điểu hoảng hốt:
- Rút kiếm ra, Thạch Kinh Tử ! Ta đợi đã bốn năm ...
Nhưng Thạch Đạt Lang lắc đầu. Trong dáng đi và trên vẻ mặt hắn có một
cái gì kiêu hùng làm mọi người phải kính nể, e dè không dám ngăn cản.
Đến gần nơi ghềnh đá dốc, cỏ cao ngập đầu người, bỗng nhiên hắn nhảy
xuống nhanh như tên bắn, một loáng đã mất dạng trong những lùm cây,
không còn dấu tích gì nữa. Cơn mưa trái mùa tầm tã đổ xuống
ngoại ô vùng Kyoto. Tiếng mưa rào rào cùng với tiếng chày giã gạo trong
xóm quyện vào nhau tạo nên một âm thanh đều đều buồn tẻ làm tăng vẻ tiêu điều của những căn nhà ảm đạm, mái ra. sũng nước và cửa gỗ mục nát
không đủ ngăn cơn gió phũ phàng từ đồng không thốc tới.
Đây là một xóm nhỏ nghèo dựng trên một khu đất bỏ hoang ở ven cổ thành,
cư dân chỉ độ vài chục người, tay làm hàm nhai, vất vả lẳm mới kiếm đủ
sống. Có những ngày hoàng hôn tắt đã lâu, sương chiều bắt đầu xuống làm
mờ những mái ra. mà bếp núc trong xóm vẫn lạnh tanh, chỉ lác đác vài căn nhà có khói bốc lên chứng tỏ có cơm tối.
Trước một căn lều trông tiều tụy chẳng kém gì những căn khác, khách vãng lai nhìn chiếc nón nan cũ rộng vành treo bên cửa, trên đề mấy chữ vụng
về thì mới biết đó là một cái quán. Nhưng quán mới xơ xác làm sao ! Đồ
đạc chả có gì, vài chiếc chiếu trải ngay trên mặt đất dùng làm giường
ngủ cho khách trọ qua đêm. Góc quán cũng có ổ rơm, nhưng ai muốn nghỉ
lưng phải tra thêm tiền nên ít khi có khách sang dám đụng tới món hàng
xa xỉ ấy. Xế vào phía trong, gần cửa ra sân sau là một cái bệ đất đắ
