Kyoto, hắn được biết tay kiếm đệ nhất của Hoa
Sơn phái là Hoa Sơn Điền Chính, tính ưa du ngoạn, không mấy khi ở nhà.
Giờ đây, bốn tay này tự xưng là Hoa Sơn, chắc hẳn là Điền Chính và đàn
em chứ không sai. Nhưng trong ba người, không biết ai là Điền Chính ?
Thạch Đạt Lang nghĩ thầm:
“Mình thật chẳng may mắn, mấy lần tắm đều gặp bất trắc. Lần trước bà già Hồ Điểu đã lừa mình vào tròng, suýt nữa thì khốn đốn với quan quân, bây giờ lại bọn này. Nếu Điền Chính biết mình là Thạch Điền Đạt Lang ở
Miyamoto thì ngu gì mà chúng không ra lấy gươm vào tấn công mình trong
nháy mắt !”.
Nhưng cả ba người kia hình như không có ý nghi ngờ gì cả. Họ vẫn tiếp
tục chuyện vãn. Qua những mẩu đối thoại nghe lỏm được, Thạch Đạt Lang đã hiểu trước kia khi Hoa Sơn Khổ Bích còn sinh tiền, Trúc Mộ Chính nhiều
lần có giao thiệp với Hoa Sơn nên nay vì tình cố cựu, cho gia nhân mang
quà và thư đến phúc đáp. Thạch Đạt Lang tự nhủ:
“Bọn này như ếch ngồi đáy giếng, tầm mắt thiển cận, nhìn trời trên đầu
không to hơn cái vung úp. Trong những năm gần đây, thực lực nhà Trúc Mộ
ra sao ai cũng biết.
Trúc Mộ lão tuy ở ẩn nhưng bao nhiêu tinh hoa của nền kiếm học và những
kinh nghiệm ông thu thập được khi còn ngang dọc giang hồ đều đã truyền
lại cho hai con trai lớn và người cháu. Trúc Lâm cốc lại là nơi hiểm
trở, lương thảo tích trữ đầy đủ. Thế mà bọn này chẳng biết gì, có mắt
không biết nhìn, có tai không biết nghe, thật đáng thương hại”.
Thạch Đạt Lang bước ra khỏi bồn tắm, vào phòng kế, tháo khăn quấn tóc,
bốc một nắm đất sét để sẵn ở đó xoa lên đầu. Hắn kỳ cọ một lúc rồi gội
sạch. Đã lâu lắm, Thạch Đạt Lang mới gội đầu theo lối cổ truyền như thế
và nghĩ đến những lúc đi tắm sông hồi còn nhỏ. Hắn nhớ đến làng cũ, khẽ
thở dài.
Ba người kia cũng vừa tắm xong, trắng nhễ nhại từ bồn bước ra, cười nói oang oang không coi ai ra gì cả.
- Chà ! Khỏe quá.
- Dễ chịu hẳn ra. Nơi sơn cước mà có được quán như thế này, khá đấy chứ ! Ta gọi chủ quán bảo mang sa-kê và các em vào phòng hầu rượu, bằng hữu
nghĩ thế nào ?
- Tuyệt ! Ý kiến hay tuyệt !
- Vậy còn chờ gì nữa ?
Cả ba khoác vội áo ngoài đi ra hiên. Tiếng họ cười ha hả còn vọng đến tai Thạch Đạt Lang đang lau mình trong phòng kế.
oo Trúc Mộ Chính ngồi trên chiếu, trước bộ kỷ trà thấp, tóc bạc phơ rủ
xuống hai vai, phong thái siêu thoát như cánh hạc vẽ trên bức cổ họa
trên vách. Ông trạc ngoài bát tuần, người mảnh khảnh, nước da hồng hào,
đôi mắt sáng quắc chứng tỏ sức khỏe còn rất dồi dào. Trúc Mộ Chính vẫn
thường nói với gia nhân:
“Trong mình ta không có dấu hiệu gì suy yếu, chắc phải thọ đến trăm
tuổi”. Lời tiên đoán chẳng làm ai ngạc nhiên, trông ông vẫn quắc thước
và minh mẫn, vả lại chuyện thọ yểu một phần hình như cũng do gia truyền:
tổ tiên nhà Trúc Mộ, trừ những người tương đối chết trẻ vì xông pha chiến trận, hầu hết đều vượt mức bát tuần cả.
Riêng phần Trúc Mộ Chính, ông sống rất tiết độ. Năm gần sáu mươi, vì lý
do riêng, ông từ bỏ không tham dự vào những chuyện giang hồ thị phi, mặc dầu hai đảng tộc đương thời là Tôn Điền và Hòa Giả hết lòng chèo kéo.
Ông đã có chủ ý:
trong cảnh tương tàn phe phái thời bấy giờ, ông thấy cách khôn khéo nhất là đứng ngoài mọi sự tranh chấp.
Quyết định của Trúc Mộ Chính quả sáng suốt, nhờ vậy Trúc Lâm cốc và Trúc Mộ gia không những đã tránh được nạn binh đao mà còn phát triển mạnh
hơn nhiều địa phương khác. Ông có quyết định ấy, một phần vì đã thấu
hiểu thời cuộc bấy giờ, nhưng một phần cũng nhờ ở sức mạnh tinh thần và
căn bản đạo đức của mình. Ông không chạy theo vinh hoa phú quý như phần
đông các kiếm sĩ khác, chỉ vì món lợi nhỏ nhiều khi quên cả liêm sỉ.
Sư phụ Trúc Mộ Chính là Tiết Dung Am, một lãnh chúa và cũng là một danh
gia kiếm sĩ, trên dường bôn tẩu giang hồ, một hôm ghé ngang Trúc Lâm
cốc, khi Trúc Mộ Chính còn là một thanh niên nhiều nhiệt huyết và tham
vọng. Tiết Dung Am ba lần tỷ kiếm với Trúc Mộ Chính, ba lần đều thắng,
sau đó mến tài Trúc Mộ, thu nhận làm đồ đệ.
Tiết Dung Am lưu lại Trúc Lâm cốc một thời gian khá lâu, chỉ điểm cho
Trúc Mộ Chính về kiếm pháp. Trước khi lên đường, ông bảo đồ đệ:
“Đường ta còn dài, mà cõi nhân sinh thì hạn hẹp, không biết ta có đủ thì giờ theo đuổi đến cùng không ! Con còn trẻ, tư chất thông minh, hẳn có
cơ duyên, mong con hiểu và nối chí ta”. Ông trao cho Trúc Mộ Chính một
pho sách, nhan đề Vô kiếm kiếm phổ và ra đi biệt tích. Từ đó không ai
nghe nói đến Tiết Dung Am nữa.
Vô kiếm kiếm phổ gồm ba phần, một phần luận về đạo của người kiếm sĩ,
một phần về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, phần còn lại mới luận về
kiếm thuật chính thức. Trúc Mộ Chính ngày đêm nghiền ngẫm pho sách, sau
ba năm suy tư và khổ luyện vẫn không tìm ra chân lý. Về sau, nhân một
buổi ngồi thiền, Trúc Mộ Chính đột nhiên giác ngộ, thấu hiểu lẽ tương
dung của trời đất, đem suy diễn ra thấy lẽ đó bàng bạc khắp trong sách.
Bấy giờ đọc lại, không còn thấy chỗ nào tối nghĩa nữa, bèn đem áp dụng
vào kiếm thuật thì thấy những thế kiếm tự nhiên hơn, nhẹ nhàng và linh
động vô cùng, đem dùn