Old school Easter eggs.
Thạch Kiếm

Thạch Kiếm

Tác giả: Tự Tỉnh

Thể loại: Truyện kiếm hiệp

Lượt xem: 3212174

Bình chọn: 10.00/10/1217 lượt.

tử thi. Sau khi xong, hắn tiến đến trước mặt Vô Tướng và Ngộ Không, nói:

- Xin đa tạ các vị đã giúp anh em chúng tôi. Từ giờ đến sáng mai, sẽ có

người tới mang những xác này đi chôn cất. Xin các vị đừng bận tâm.

Nói xong, cả năm người cùng cáo biệt lên ngựa đi thẳng.

Vô Tướng và các tăng sĩ phái Quang Minh cũng đứng hàn huyên một lúc rồi mới chia tay về Nara.

Thạch Đạt Lang quỳ xuống trước mặt Ngộ Không, kính cẩn:

- Tại hạ vừa được vị thủ tòa Quang Minh cho biết lý do về những hàng động mới đây của quý hội. Dám xin đại sư chỉ dẫn thêm.

Ngộ Không đưa tay đỡ Thạch Đạt Lang đứng dậy:

- Thí chủ bất tất phải đa lễ. Có gì bí mật đâu ! Sở dĩ bần tăng phải bày ra kế này vì viên quan chấp pháp mới đến nhậm chức, chưa rõ tình hình

để bọn du đãng lộng hành quá đỗi. Gặp cơ duyên, được biết thí chủ là tay nghĩa hiệp nên bần tăng có bàn với Vô Tướng, mạn phép thí chủ. Xin vì

ích chung mà thứ lỗi cho.

- Đại sư dạy quá lời. Bài học vừa rồi làm tại hạ suýt mất mạng.

- Không đâu ! Bần tăng biết chứ ! Và đó cũng là lý do bần tăng đã kể Vô

Tướng giả hợp tác với chúng ban đầu cho chúng khỏi nghi kỵ và đỡ thí chủ một tay khi cần.

Nghe thủng câu chuyện, mọi người đều vui vẻ. Vui nhất có lẽ là Giang. Nó hớn hở thấy thầy nó còn sống, vui mừng và kiêu hãnh vì được chứng kiến

tận mắt sư phụ chiến đấu dũng mãnh, một tay giết bao nhiêu là côn đồ,

thảo khấu. Nó sung sướng nhảy cẫng, miệng hát líu lo.

Ngộ Không mỉm cười, gọi:

- Này cháu nhỏ, lại đây ta bảo !

Nhà sư chỉ những viên cuội tròn rải rác khắp đồi:

- Cháu nhặt cho ta chừng hai chục hòn đá như thế này !

- Dạ. Nhưng nhặt làm gì vậy ?

- Thì cứ nhặt mang lại đây rồi biết !

Khi đá được mang đến, Ngộ Không viết lên trên mỗi hòn đá câu chú “Nam mô Thích ca Mâu ni Phật”, sai Giang đem đến đặt bên mỗi tử thi một hòn.

Ông đứng ra giữa đồng làm lễ cầu siêu cho linh hồn những người quá cố,

niệm kinh vãng sinh giữa những tiếng quạ kêu và đồi chiều bắt đầu nổi

gió.

Trong khung cảnh bao la của đồng hoang Hannya chiều hôm ấy, ba người

tượng trưng cho ba thế hệ, cúi đầu cầu nguyện. Bóng họ đổ dài trên nền

cỏ xanh còn loang vết máu. Trúc Lâm cốc chạy dài dưới chân núi Kasagi, về phía đông bắc Nara. Gọi là cốc, nhưng thật ra là một thung

lũng hẹp, bốn bề vách đá hiểm trở bao vây, ban ngày chỉ thấy mặt trời từ giờ tị đến cuối giờ mùi. Những lúc khác, cả thung lũng chìm trong bóng

tối hoặc ẩn sau một màn sương mù dày đặc, nhất là vào những ngày u ám.

Vào đầu thế kỷ , một làng được lập ngay trong cốc. Dân làng khá đông,

chuyên nghề tầm tang và dệt lụa. Vì ít tiếp xúc với những thị trấn bên

ngoài, Trúc Lâm cốc vẫn giữ nguyên được nền nếp thanh bình như khi mới

lập. Giữa cốc là một tòa nhà lớn, dân làng thường gọi là Đại lâu, vừa

dùng để hội họp, vừa để gìn giữ những di sản văn hóa trong cốc. Một

tường đá kiên cố với lũy tre dầy bao bọc quanh làng, kín như rừng, nên

cốc có tên là Trúc Lâm.

Cảnh trí Trúc Lâm đẹp như tranh vẽ. Vách đá sừng sững cao đâm thấu trời

xanh, cổ thụ mọc trên vách đá không biết từ đời nào và chịu bao sương

tuyết mà thân cành vặn vẹo, nhưng không vì thế kém tươi tốt. Những chùm

lá xanh đen, cứ vào mỗi đầu xuân lại thi nhau đâm chồi nẩy lộc, tung ra

sức sống mãnh liệt tiềm ẩn trong thớ gỗ. Vào những ngày đẹp trời, ánh

dương mới mọc chênh chếch chiếu lên sườn núi làm ửng lên muôn ngàn sắc

độ của thảm rêu trên những mỏm đá cheo leo trông rất ngoạn mục. Nước

suối thì trong và mát, đem pha trà thật không gì sánh kịp. Vườn mai gần

đó nở trắng hoa, mỗi khi xuân đến rộn tiếng họa mi véo von, trong như

nước suối.

Xã trưởng Trúc Lâm là một tay kiếm sĩ tuổi trung niên. Tổ tiên ông đến

đây lập nghiệp đã lâu đời và đã góp phần rất lớn vào việc dựng nên cốc

này. Ông theo truyền thống tiền nhân, đem hết tâm lực bảo vệ cho cốc

không bị cường khấu quấy phá, lại giữ gìn hảo tục thuần phong, lo cho

dân làng có đủ đất đai cày cấy, thành ra mọi người đều yên vui no đủ

lắm. Trong cảnh hỗn loạn sứ quân của nước Nhật vào cuối thế kỷ mười sáu, Trúc Lâm cốc thật là một nơi lý tưởng để sinh sống và di dưỡng tính

tình.

“Địa linh sinh nhân kiệt”, người xưa nói quả không sai. Trúc Lâm là nơi

sinh trưởng của một đại kiếm sĩ, bốn mươi năm trước đây danh tiếng lừng

lẫy giang hồ tên Trúc Mộ Chính. Kiếm thuật của Trúc Mộ gia không huê

dạng nhưng nhanh và gọn vô cùng. Ông cho rằng kiếm không phải là một thứ đồ chơi, múa lấy đẹp mắt. Ông ít khi sử kiếm, vì cho rằng kiếm thuật

không phải là cứu cánh của kiếm đạo, nên chỉ dùng kiếm khi vạn bất đắc

dĩ và khi nội tâm thật bình tĩnh, không bị thất tình và ngoại cảnh chi

phối. Ông thường nói với môn sinh:

“Mục đích tối hậu của kiếm đạo là không dùng kiếm”. Quan niệm này của

Trúc Mộ Chính đã được nhiều danh kiếm đương thời đem ra thảo luận và

cũng chính là trọng tâm, nếu không nói là cốt tủy của trường phái Trúc

Mộ.

Trúc Mộ lão giờ tuổi đã cao, lui về ở ẩn trong một ngôi nhà cỏ cách Đại

lâu không xa. Ông không quan tâm gì đến thế sự nữa, mọi tiếng thị phi

đều gác bỏ ngoài tai. Con cháu Trúc Mộ là những ng