tử thi. Sau khi xong, hắn tiến đến trước mặt Vô Tướng và Ngộ Không, nói:
- Xin đa tạ các vị đã giúp anh em chúng tôi. Từ giờ đến sáng mai, sẽ có
người tới mang những xác này đi chôn cất. Xin các vị đừng bận tâm.
Nói xong, cả năm người cùng cáo biệt lên ngựa đi thẳng.
Vô Tướng và các tăng sĩ phái Quang Minh cũng đứng hàn huyên một lúc rồi mới chia tay về Nara.
Thạch Đạt Lang quỳ xuống trước mặt Ngộ Không, kính cẩn:
- Tại hạ vừa được vị thủ tòa Quang Minh cho biết lý do về những hàng động mới đây của quý hội. Dám xin đại sư chỉ dẫn thêm.
Ngộ Không đưa tay đỡ Thạch Đạt Lang đứng dậy:
- Thí chủ bất tất phải đa lễ. Có gì bí mật đâu ! Sở dĩ bần tăng phải bày ra kế này vì viên quan chấp pháp mới đến nhậm chức, chưa rõ tình hình
để bọn du đãng lộng hành quá đỗi. Gặp cơ duyên, được biết thí chủ là tay nghĩa hiệp nên bần tăng có bàn với Vô Tướng, mạn phép thí chủ. Xin vì
ích chung mà thứ lỗi cho.
- Đại sư dạy quá lời. Bài học vừa rồi làm tại hạ suýt mất mạng.
- Không đâu ! Bần tăng biết chứ ! Và đó cũng là lý do bần tăng đã kể Vô
Tướng giả hợp tác với chúng ban đầu cho chúng khỏi nghi kỵ và đỡ thí chủ một tay khi cần.
Nghe thủng câu chuyện, mọi người đều vui vẻ. Vui nhất có lẽ là Giang. Nó hớn hở thấy thầy nó còn sống, vui mừng và kiêu hãnh vì được chứng kiến
tận mắt sư phụ chiến đấu dũng mãnh, một tay giết bao nhiêu là côn đồ,
thảo khấu. Nó sung sướng nhảy cẫng, miệng hát líu lo.
Ngộ Không mỉm cười, gọi:
- Này cháu nhỏ, lại đây ta bảo !
Nhà sư chỉ những viên cuội tròn rải rác khắp đồi:
- Cháu nhặt cho ta chừng hai chục hòn đá như thế này !
- Dạ. Nhưng nhặt làm gì vậy ?
- Thì cứ nhặt mang lại đây rồi biết !
Khi đá được mang đến, Ngộ Không viết lên trên mỗi hòn đá câu chú “Nam mô Thích ca Mâu ni Phật”, sai Giang đem đến đặt bên mỗi tử thi một hòn.
Ông đứng ra giữa đồng làm lễ cầu siêu cho linh hồn những người quá cố,
niệm kinh vãng sinh giữa những tiếng quạ kêu và đồi chiều bắt đầu nổi
gió.
Trong khung cảnh bao la của đồng hoang Hannya chiều hôm ấy, ba người
tượng trưng cho ba thế hệ, cúi đầu cầu nguyện. Bóng họ đổ dài trên nền
cỏ xanh còn loang vết máu. Trúc Lâm cốc chạy dài dưới chân núi Kasagi, về phía đông bắc Nara. Gọi là cốc, nhưng thật ra là một thung
lũng hẹp, bốn bề vách đá hiểm trở bao vây, ban ngày chỉ thấy mặt trời từ giờ tị đến cuối giờ mùi. Những lúc khác, cả thung lũng chìm trong bóng
tối hoặc ẩn sau một màn sương mù dày đặc, nhất là vào những ngày u ám.
Vào đầu thế kỷ , một làng được lập ngay trong cốc. Dân làng khá đông,
chuyên nghề tầm tang và dệt lụa. Vì ít tiếp xúc với những thị trấn bên
ngoài, Trúc Lâm cốc vẫn giữ nguyên được nền nếp thanh bình như khi mới
lập. Giữa cốc là một tòa nhà lớn, dân làng thường gọi là Đại lâu, vừa
dùng để hội họp, vừa để gìn giữ những di sản văn hóa trong cốc. Một
tường đá kiên cố với lũy tre dầy bao bọc quanh làng, kín như rừng, nên
cốc có tên là Trúc Lâm.
Cảnh trí Trúc Lâm đẹp như tranh vẽ. Vách đá sừng sững cao đâm thấu trời
xanh, cổ thụ mọc trên vách đá không biết từ đời nào và chịu bao sương
tuyết mà thân cành vặn vẹo, nhưng không vì thế kém tươi tốt. Những chùm
lá xanh đen, cứ vào mỗi đầu xuân lại thi nhau đâm chồi nẩy lộc, tung ra
sức sống mãnh liệt tiềm ẩn trong thớ gỗ. Vào những ngày đẹp trời, ánh
dương mới mọc chênh chếch chiếu lên sườn núi làm ửng lên muôn ngàn sắc
độ của thảm rêu trên những mỏm đá cheo leo trông rất ngoạn mục. Nước
suối thì trong và mát, đem pha trà thật không gì sánh kịp. Vườn mai gần
đó nở trắng hoa, mỗi khi xuân đến rộn tiếng họa mi véo von, trong như
nước suối.
Xã trưởng Trúc Lâm là một tay kiếm sĩ tuổi trung niên. Tổ tiên ông đến
đây lập nghiệp đã lâu đời và đã góp phần rất lớn vào việc dựng nên cốc
này. Ông theo truyền thống tiền nhân, đem hết tâm lực bảo vệ cho cốc
không bị cường khấu quấy phá, lại giữ gìn hảo tục thuần phong, lo cho
dân làng có đủ đất đai cày cấy, thành ra mọi người đều yên vui no đủ
lắm. Trong cảnh hỗn loạn sứ quân của nước Nhật vào cuối thế kỷ mười sáu, Trúc Lâm cốc thật là một nơi lý tưởng để sinh sống và di dưỡng tính
tình.
“Địa linh sinh nhân kiệt”, người xưa nói quả không sai. Trúc Lâm là nơi
sinh trưởng của một đại kiếm sĩ, bốn mươi năm trước đây danh tiếng lừng
lẫy giang hồ tên Trúc Mộ Chính. Kiếm thuật của Trúc Mộ gia không huê
dạng nhưng nhanh và gọn vô cùng. Ông cho rằng kiếm không phải là một thứ đồ chơi, múa lấy đẹp mắt. Ông ít khi sử kiếm, vì cho rằng kiếm thuật
không phải là cứu cánh của kiếm đạo, nên chỉ dùng kiếm khi vạn bất đắc
dĩ và khi nội tâm thật bình tĩnh, không bị thất tình và ngoại cảnh chi
phối. Ông thường nói với môn sinh:
“Mục đích tối hậu của kiếm đạo là không dùng kiếm”. Quan niệm này của
Trúc Mộ Chính đã được nhiều danh kiếm đương thời đem ra thảo luận và
cũng chính là trọng tâm, nếu không nói là cốt tủy của trường phái Trúc
Mộ.
Trúc Mộ lão giờ tuổi đã cao, lui về ở ẩn trong một ngôi nhà cỏ cách Đại
lâu không xa. Ông không quan tâm gì đến thế sự nữa, mọi tiếng thị phi
đều gác bỏ ngoài tai. Con cháu Trúc Mộ là những ng