ối lộ, lão gây khó khăn, phán là Nhuận Nương chết vì bệnh, rồi lại bảo bà
Phương xui con gái quyến rũ người. Bà Phương đùng đùng tức giận.
Ba
ngày sau, quan mới cho công sai theo bà Phương về khám hiện trường. Bà Phương
mở khóa, thấy lo lo: gã Tôn này chắc chưa chết đói? Nếu hắn chết đi như vậy thì
sự việc chẳng quá dễ dàng sao? Nhưng nghe bên trong có tiếng cười nói, bà ta
đâm nghi, bèn đẩy cửa vào, thấy Nhuận Nương với chàng Tôn sống sờ sờ đang nói
đang cười. Bà ta giơ gậy lên định đánh nhưng tên công sai ngăn lại. Bà ta bảo
tên công sai giải chàng Tôn lên phủ, chàng Tôn nói: “Nhuận Nương không có chết,
sao lại bảo là tôi giết chết nàng? Tôi với Nhuận Nương biết nhau từ nhỏ, tình
cảm hợp nhau, sao lại bảo là gian dối? Bây giờ, bà nhốt hai chúng tôi mấy ngày
trong cùng một phòng, vậy là bà có ý tác thành cho chúng tôi rồi. Sao còn phải
lên quan làm gì nữa?” Công sai nghe nói có lý, cho rằng bà Phương này vu cáo,
bèn đòi tiền uống rượu rồi quay về phủ. Bà Phương đã phí bao công sức, lại phải
đưa tiền rượu mà không kiện được chàng Tôn, ngược lại phải mất không con gái
cho chàng ta.
Chàng
Tôn bèn chọn ngày tháng tốt, cùng Nhuận Nương thành vợ thành chồng.
Thật
là:
Nhân
duyên hữu phận bất tu mang
Tự
hữu thiên công tác chủ trương
Bất
thị nhất phiên hàn triệu cốt
Chẩm
đắc mai hoa phốc tỵ hương!
(Nhân
duyên có phận khỏi lo
Trời
xanh giáng phúc giúp cho vẹn toàn
Nếu
không có trận đại hàn
Thì
sao có được mai vàng tỏa hương!)
Kinh kim cương (Nhị phách)
Nhà
thơ lớn đời Đường Bạch Cư Dị đã nổi tiếng trong thiên hạ vì bài “Trường
hận ca” và bài “Tỳ bà hành”. Tương truyền lúc cuối đời ông tự xưng mình là
“Hương Sơn cư sĩ”, chú tâm niệm Phật tụng kinh, phát nguyện chép tay 100 quyển
“Kim cương bát nhã kinh”. Qua mấy trăm năm binh hỏa chiến loạn, một trăm quyển
sách đó đã thất tán chẳng biết đi đâu. Cuối cùng người ta chỉ tìm thấy một
quyển ở trong một ngôi chùa trên núi Động Đình vùng Thái Hồ đất Ngô Trung. Thế
là các tao nhân mặc khách bốn phương, các hiền sĩ nổi tiếng, đều tấp nập tới đó
để xem, để bái lạy, để đề lời bạt lưu danh. Vì thế nên quyển kinh này càng thêm
quý, các tăng lữ trong chùa xem là vật báu ngàn năm.
Năm
43 đời Gia Tĩnh triều Minh, đất Ngô Trung bị lũ lụt triền miên, mùa màng ngập
hết, tai họa nghiêm trọng, đói khát khắp nơi. Số tăng lữ trong chùa ở núi Động
Đình quá đông, bình thường sống dựa vào sự bố thí của thiện nam tín nữ, bây giờ
dân nghèo gạo hết, các thí chủ đâu còn lương thừa mà bố thí nữa, các sư lo lắng
vô cùng. Bấy giờ có một ông sư Pháp danh Biện Ngộ nghĩ ra một cách: Đem quyển
“Kinh Kim Cương” vẫn cất giữ trong chùa ra tìm một hộ có hiểu biết về đồ cổ để
đổi lấy ít gạo về dùng lúc khó khăn trước mắt, khi nào nạn đói qua đi sẽ tới
chuộc lại. Các sư người đồng ý, người phản đối, không nhất trí được. Cuối cùng
vị sư trụ trì quyết định rằng: so với chuyện chết đói thì thà làm theo cách của
Biện Ngộ. Thế là ông sai Biện Ngộ lo việc này.
Biện
Ngộ có một người bạn họ Nghiêm là người mộ đạo hay bố thí, làm Đô quản trong
phủ Tướng quốc. Biện Ngộ nghĩ bụng: Nghiêm Đô quản vị tất đã biết được giá trị
của quyển sách, song nhất định anh ta đã có nghe nói đến. Hơn nữa, bạn bè với
nhau nhiều năm, chắc chắn thế nào anh ta cũng giúp đỡ cho. Thế là mang sách
ngồi thuyền đi thẳng tới phủ Tướng quốc. Gặp nhau, Biện Ngộ nói rõ vì sao mình
lại đến đây, Nghiêm Đô quản đúng là có nghe nói đến quyển sách kinh quý cất giữ
trong chùa Động Đình, giá trị ngàn vàng, song chưa được nhìn thấy. Anh ta nghĩ
bạn của mình đã nhờ cậy thì nhận lời, một là được tiếng tốt, hai là được mở
rộng tầm mắt. Bèn bảo đưa sách cho xem. Nghiêm Đô quản cứ nghĩ một thứ giá trị
ngàn vàng thì phải vàng ngọc lóng lánh trông lóa cả mắt, ai ngờ cái mà Biện Ngộ
đưa ra lại chỉ là bọc giấy cũ mốc xộc xệch. Anh ta hơi thất vọng, bèn giơ tay
lật lật, thấy sau sách có nhiều bút tích và dấu ấn của rất nhiều danh nhân tao
nhã, trong đó có cả tên của quan Tướng quốc. Lúc này anh ta mới tươi cười, nhận
lấy sách và trả cho Biện Ngộ năm mươi thạch gạo, gọi người viết cái phiếu kẹp
vào sách cẩn thận, Biện Ngộ đem năm mươi thạch gạo hớn hở về chùa.
Phu
nhân của quan Tướng quốc suốt đời tôn trọng các đệ tử nhà Phật, kính mộ các
kinh sách Phật. Một hôm, nhân lúc rảnh rỗi, bà tới thư phòng lật tìm sách đọc,
bỗng thấy trong một bọc sách cũ kỹ có một tờ giấy nhỏ trên đề: “Ngày mỗ tháng
mỗ năm mỗ, quyển nhất “Kinh Kim Cương”, tại ngôi chùa mỗ núi Động Đình, năm
mươi thạch gạo”. Bà chợt nhớ ra nhất định sách này là sách quý “Kinh Kim Cương”
trên chùa núi Động Đình mà Tướng quốc luôn nhắc tới đây. Nếu cứ để ở trong phủ
thì thật là khinh nhờn kinh sách, rồi còn bị người ta nói là kiếm lợi trước đức
Phật nữa chứ. Năm mươi thạch gạo cũng xem như mình bố thí suốt năm rồi. Thế là
cho người đến chùa bảo tới mà nhận sách kinh về.
Được
tin khắp chùa trên dưới đều rất vui mừng. Sư trụ trì bèn sai Biện Ngộ tới phủ
Tướng quốc. Biện Ngộ cảm tạ Tướng quốc phu nhân rất nhiều rồi mang sách xuốn