Động Đình Hồ Ngoại Sử
Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Thể loại: Truyện kiếm hiệp
Lượt xem: 329124
Bình chọn: 10.00/10/912 lượt.
Lý Tư chính tay
viết 8 chữ trên vào phiến ngọc, sai khắc thành ấn. Niên hiệu thứ hai
mươi tám đời Tần Thủy Hoàng, nhân nhà vua du hồ Động Đình gặp sóng lên,
thuyền muốn chìm. Nhà vua sai ném ấn ngọc xuống hồ, sóng tự nhiên im.
Niên hiệu thứ 38 Tần Thủy Hoàng qua Hoa-âm gặp dị nhân đem dâng cái hộp. Mở ra thấy cái ấn này. Sau con Thủy Hoàng là Tử Anh dâng cho Cao-tổ nhà Hán. Nhà Hán dùng làm Ngọc-tỷ truyền quốc. Đến đời Hán Bình Đế, Vương
Mãng cướp ngôi. Y sai Vương Tam, Tô Hiến vào cung đoạt ấn. Bà
Hiếu-nguyên hoàng thái-hậu cầm ấn ném Vương Mãng, Ngọc tỷ mẻ một góc.
Xích Mi lấy lại của Vương Mãng, y dùng vàng bịt lại góc bị bể. Xích Mi
giao cho ta giữ. Y đâu có biết ta ghi lòng phục quốc, chiếm Ngọc Tỷ và
bản đồ kho tàng. Bây giờ các ngươi hãy giữ Ngọc-tỷ, đào kho tàng lên,
làm phương tiện phục hồi Lĩnh Nam.
Đến đó Thiếu Lan, thở hắt ra một cái, rồi nước mắt chảy ròng ròng. Bên
cạnh nàng, tiếng sáo tỉ tê như khóc như than cho người liệt nữ bạc mệnh
của Lê Chân thổi lên trong đêm trường tịch mịch.
Trưng Nhị sai chôn cất Thiếu Lan thật cẩn thận bên ghềnh sông Tương-giang đổ vào hồ Động-đình. Khắc trên mộ:
Liệt nữ Lĩnh Nam Trần Thiếu Lan chi mộ.
Sau khi giành được độc lập, phục hồi Lĩnh Nam, Trưng đế phong cho Trần
Thiếu Lan: Anh thư bảo quốc, diệu tài, đại lược, linh-ứng công chúa. Và
cho cất đền thờ. Dân chúng quanh vùng cầu gì được nấy.
Chú giải
Sau này các sứ thần Đại Việt đời Đinh, Lê, Lý, Trần nhân đi qua
Động-đình hồ đều có ghé miểu thắp hương, tưởng nhớ người Việt-nữ có tấc
lòng với tổ quốc. Trước đền thờ, một tấm bia đá đề:
Lĩnh Nam liệt nữ, Bảo quốc anh thư miếu.
Trải qua các đời Đinh, Lê, Lý, Trần, Trương Phụ thu ngọc phả mang về
Kim-lăng (1407). Vì vậy không biết đời Lê, Nguyễn, các sử gia Đại Việt
có còn tế lễ như những đời trước không?
Đầu năm 1981, cuối năm Canh Thân, thuật giả từ Paris đi Bắc-kinh. Đổi
máy bay từ Bắc-kinh đi Trường-sa tìm di tích về anh hùng Lĩnh Nam, đã
tìm được di tích của bà. Trong một cuốn sách nói về tỉnh Hồ-nam, có đoạn ghi :
“Miếu thờ liệt nữ Lĩnh Nam Trần Thiếu Lan ở ghềnh sông Tương-giang. Hồi cách mạng văn hóa bị phá hủy. Nay chỉ còn cái nền”.
Thuật giả thuê xe đến cửa Tương-giang, lần mò hỏi thăm dân chúng. Họ chỉ vào khu đất bằng phẳng, cách bờ sông khoảng hai trăm thước, đó là một
khu vườn. Tôi nói với chủ vườn rằng: Ngôi mộ, miếu của một vị tổ cô xa
đời. Chúng tôi ở ngoại quốc, trở về thăm mộ người.
Chủ vườn vui vẻ, hướng dẫn thuật giả ra xem mộ. Mộ xây bằng đá ong. Trải bao thỏ lặn ác tà bị sứt mẻ, nhưng vẫn còn nguyên. Bia trên mộ không
còn nữa. Chủ vườn cho biết, hồi Cách Mạng Văn Hoá, bọn Vệ binh đỏ kéo
đến đập phá miếu, gỡ tấm bia trên mộ mang đi mất. Còn tảng đá dùng làm
bệ thờ trên ghi sắc phong của Trưng Đế, nặng quá, bọn chúng để lại.
Thuật giả tới cạnh tảng đá, trên còn lờ mờ đọc được:
“ ….bảo quốc,linh ứng….”.
Hồi năm 1981, du khách tới Trung-quốc, muốn chụp hình, quay phim, phải
xin phép rất khó khăn. Thành ra thuật giả muốn chụp hình kỷ niệm, mà
không được. Thuật giả cũng muốn tu bổ mộ bà nhưng vì thời gian ở
Trường-sa giới hạn, và còn phải xin phép với nhiều thủ tục nên không
kịp. Sau này bạn đọc có ai muốn viếng mộ ngài xin theo chỉ dẫn nói trên, tất vẫn còn thấy mộ.
Sa Giang đã thuật về cuộc chiến Kinh Châu cho Phương Dung nghe xong.
Phương Dung nghe Sa Giang kể truyện, nàng hỏi:
– Sư muội, thế sư thúc Trần Năng đâu?
Sa Giang nói:
– Khi rời Trường-sa được ít dặm, bọn tiểu muội gặp Tăng Giả Nan Đà. Ngài muốn đến Trường-an cùng với bọn tiểu muội. Bọn tiểu muội thấy mình đã
có tiên ông Khất đại-phu, thêm một vị Bồ-tát sẽ vui lắm. Vì vậy trên
đường đi chúng em có thêm ngài. Ngài chỉ ăn hoa quả như chim không ăn cá thịt. Sư tỷ, không ai ngờ ngài ăn uống như vậy mà công lực cao dường
ấy. Suốt dọc đường ngài giảng thiền cho Trần sư tỷ nghe. Em chẳng hiểu
gì cả. Ngài giảng những gì nào là Nhân ngã tứ tướng rồi giảng kinh
Lăng-già, Kim-cang. Em nghe câu hiểu câu không. Còn Trần sư tỷ thì khoan khoái trong lòng. Trần sư tỷ nói, nhờ có ngài dạy dỗ, mà trên đường từ
Trường-sa về đây, công lực của sư tỷ cao gấp bội. Trần sư tỷ bảo em đi
trước gặp sư tỷ trình bày mọi sự. Không biết bao giờ Trần sư-tỷ với vị
Bồ-tát sẽ đến.
Bỗng tiếng Trần Năng nói vọng lại:
– Bồ-tát và Trần sư tỷ đến từ lâu rồi. Sư muội khỏi lo lắng nữa.
Phương Dung là người cực kỳ thông minh. Tuy nàng chưa biết Phật-giáo.
Chỉ nghe Sa Giang kể, nàng đã biết được một phần nào cách xưng hô với
Tăng Giả Nan Đà. Nàng chắp tay hướng ngài hành lễ:
– A Di Đà Phật. Đệ tử Phương Dung, kính cẩn tham kiến Bồ-tát.
Nàng nhìn ngài: Nước da đen bóng, đầu không tóc. Lưng quấn tấm cà sa mầu đại hồng. Khuôn mặt cười mà không cười. Ánh mắt chiếu ra vẻ từ bi. Chỉ
nhìn đã thấy ấm áp dễ chịu:
Tăng Giả Nan Đà đáp lễ Phương Dung:
– A Di Đà Phật! Đại phúc. Đào phu nhân sao lại muốn khóc thế kia?
Phương Dung giật mình. Quả thực nàng gặp hai thất bại: Thiều Hoa bị bắt, không hiểu tình trạng ra sao. Đó là thất bại thứ nhất. Thứ nhì,
Tiên-yên nữ hiệp bị tr