ikida, mời nàng
về dạy nhạc cho các xử nữ. Ở hoàn cảnh tứ cố vô thân như nàng bấy giờ,
thôi thì đâu cũng là nhà, khác gì cánh phù du mùa đông mặc cho gió đưa
đẩy. Nàng gật đầu ưng thuận.
Thế là Oa Tử và Giang được vị khách quan kia dẫn về đền. Chỉ phiền một
nỗi Giang lại là con trai, mặc dầu còn nhỏ tuổi, nhưng theo luật lệ
không được phép ở cùng một khuôn viên với các xử nữ. Vì thế người tá
điền giao cho nó việc phụ giúp lão làm vườn và buổi tối cùng ngủ chung
trong vựa củi với lão.
Thời gian trôi qua, Oa Tử càng ngày càng yêu cảnh u tịch của ngôi đền.
Thông reo gió sớm, giọng chim lảnh lót lúc ban mai, và những buổi chiều
tà, tiếng vạc kêu sương gợi cho nàng biết bao hoài cảm. Có những lúc
ngồi lặng trước cảnh yên tĩnh của thiên nhiên, Oa Tử ngơ ngẩn xuất thần
mặc cho hồn phiêu diêu ngược dòng thời gian trở về những năm tháng cũ.
Nàng tưởng như đương ngồi trên bực đá ở thềm chùa Tiểu Sơn, lòng lâng
lâng không vương vấn. Những lúc ấy, Oa Tử lại đem sáo ra thổi:
thanh ba tinh khiết của tiếng trúc dâng cao, lòng nàng quyện vào những âm thanh đó mỗi lúc một say sưa làm nàng ngây ngất.
Đằng xa, một vệt khói xanh bốc lên trong khu vườn hoang. Oa Tử nhớ đến
Giang, tội nghiệp thằng bé đã phải lao động cực nhọc ở cái tuổi mà trẻ
con chỉ biết chơi đùa.
Chắc bây giờ nó đang nhặt cành khô và đốt lá. Nàng bắc loa tay gọi lớn:
- Gi ... ang ! Gi ... ang ơi !
Có tiếng đáp và lúc sau, Giang chạy tới. Bộ mặt đen đủi lém lỉnh của nó
loang loáng dưới ánh nắng qua khe những cành cây trong vườn. Giang lấy
tay quệt mồ hôi trán, toét miệng cười:
- Ngỡ là ai. Cô nương gọi em làm gì vậy ?
Đột nhiên, Giang nhìn thấy cái túi vải Oa Tử để bên cạnh:
- Cái này của ai thế ?
Vừa hỏi, Giang vừa giơ tay định kéo cái túi, nhưng Oa Tử ngăn lại:
- Không được ! Không biết của ai. Để ta gọi người mang lên giao cho lão quán.
Không được đụng đến đấy !
Bỗng từ xa, một lễ sinh chạy tới trước mặt Oa Tử:
- Xin mời cô nương về ngay. Viện chủ muốn gặp.
- Thế à. Ta về ngay đây. Nhân thể nhờ em mang cái túi này trao cho lão quản, để hễ có ai đến hỏi thì hoàn lại cho họ.
Giang nhìn cái túi vải và thanh gươm người thiếu nữ lôi đi, mắt nó buồn
và môi bậm chặt. Nắng sáng rọi qua cành thưa, vài chiếc lá khô còn sót
lại rủ bóng loang lổ lên mặt Giang khiến miệng nó trông như mếu. Oa Tử
nhìn Giang lo lắng hỏi:
- Chuyện gì thế em ? Em nhìn gì vậy ?
Giang lắc đầu buồn bã:
- Không ! Em trông cái túi và thanh gươm, lại nhớ đến thầy em !
Nghe Giang nói, Oa Tử không nén được xúc động, mắt đỏ hoe. Nghe lời Đại
Quán, nàng đã cố quên con người ấy, nhưng hình ảnh Thạch Đạt Lang vẫn
luôn luôn ám ảnh. Lời nói của thằng bé khơi dậy sự nhớ thương mãnh liệt
làm Oa Tử đau khổ vô cùng.
Nàng có cảm tưởng nó như cơn đau răng, lúc bận quên đi thì thôi, nhưng
hễ ai động đến thì nhức nhối. Nỗi đau nhọn sắc tựa gai đâm sâu vào vết
thương chảy máu. Đại Quán chưa yêu, hay không biết yêu là gì, hiểu thế
nào được tâm trạng của nàng lúc ấy. Nàng đưa tay áo lên chùi nước mắt,
lầm lũi bước đi. Có lẽ nàng phải bỏ nơi này, dù gian nan đến mấy cũng
chịu, chỉ cốt nhìn mặt người yêu, ghé đầu vào ngực người nàng thương
nhớ. Vui buồn lẫn lộn, nước mắt lại trào ra, hình ảnh Thạch Đạt Lang
nhòe nhoẹt. Như trong giấc mơ, ảo tưởng làm Oa Tử quên cả thực tại khiến hai lần Giang phải chạy đến lo ngại hỏi:
- Cô nương ! Cô nương làm sao thế ?
Mãi khi thằng bé kéo áo, ngập ngừng:
“Cô nương giận em đấy à ?”. Oa Tử mới sực tỉnh. Nàng gượng cười với thằng bé:
- Không. Ta có tâm sự buồn. Thôi em đi làm đi, ta lên xem viện chủ bảo gì, đến bữa chiều sẽ lại gặp em.
Viện chủ Arikida gọi văn phòng của ông là Văn Mặc Viện, nơi ông vừa tiếp khách, vừa hội họp và nghiên cứu cổ thư để soạn thảo văn liệu cho đền.
Sát với viện là một ngôi nhà gỗ dùng làm trường học cho các lễ sinh,
đồng thời cũng là nơi dạy dỗ một số các trẻ nhỏ trong mấy quận lân cận.
Ông có ý dạy cho phái thiếu niên biết về cổ sử Nhật, một điều mà các nhà giáo dục thời bấy giờ cho là vô ích. Nhưng ông, ông nghĩ khác. Đa số
dân chúng thường có khuynh hướng liên kết quốc gia với lịch sử các triều đại, nên chỉ giữ lòng trung với một triều đại nào đó thôi mà quên mất
lòng trung với quốc gia. Hưng vong của giai cấp, họ cho là hưng vong của cả dân tộc, họ chỉ biết xả thân cho giai cấp, vì vậy cảnh tương tàn phe phái làm quốc gia suy yếu. Cho nên ông đi tìm cái gốc, dạy cho trẻ hiểu đâu là nguồn, hy vọng sau này sự tha thiết với nguồn gốc sẽ đơm hoa kết trái để dân tộc còn mãi với thời gian.
Với lòng thành khẩn, kiên trì, ông san định lại cổ thư, phả vào đó luồng sinh khí mới để phái thiếu niên dễ cảm thông với cổ nhân hơn. Ông làm
việc ấy cả mười năm rồi, tuy chưa đáng gọi là có kết quả gì đặc biệt
nhưng dân trong vùng đã giác ngộ:
triều đại này suy vi, triều đại kia hưng thịnh thì đó cũng chỉ là những
chuyển biến của quốc gia, tỷ như những ngôi sao lúc mọc, lúc lặn, ánh
sáng mờ nhạt không thể bì với ánh thái dương, tiêu biểu cho dân tộc
được.
Viện chủ Arikida vừa ra khỏi phòng học thì một