kiến
trúc: sân bóng đá, nhà hát, sân bay, sân vận động, viện bảo tàng, lãnh
sự quán, văn phòng chính phủ, nhiều nhất là những tòa nhà chọc trời,
ngoài ra còn có mấy công trình hình thù kỳ quái không rõ mục đích sử
dụng là gì.
Nhớ ra rồi, anh là kiến trúc sư. Kiến trúc sư tiếng Anh gọi là gì nhỉ? Tôi ôn lại vốn từ vựng đã học.
Architect.
Nói thật, phản xạ đầu tiên của tôi với từ kiến trúc này là hình ảnh
gạch ngói, xe cút kít, gỗ, vôi, lúc gác đòn tay phải đốt pháo, còn có
những người thợ hồ thường ngồi ăn bên lề đường ở quê tôi ngày xưa. Cậu
tôi lúc trước là thợ hồ, sau này thì lên làm chủ thầu, nhà tôi ở quê là
nhờ cậu xây giúp.
Tôi không muốn nhìn công trình kiến trúc, mà chỉ muốn nhìn anh, nhìn
ảnh của anh, ảnh về cuộc sống của anh. Tôi nhìn xung quanh, tìm khắp các vách tường, mặt bàn, cửa sổ, cửa chính, mọi nơi có thể treo ảnh nhưng
không thấy tấm nào.
Tôi đem chân giả vào phòng ngủ, vì anh chỉ thay quần áo tại phòng
ngủ. Phòng ngủ rộng rãi như phòng khách, cạnh cửa sổ có một bộ ghế sô
pha màu đỏ. Sàn gỗ không dính một hạt bụi. Bên giường có một kệ sách nhỏ xinh, trên kệ có một chồng tạp chí kiến trúc và vài tập bản vẽ kiến
trúc khổ lớn.
Chỉ có hai quyển sách nhìn rất cũ, có lẽ không liên quan đến kiến trúc.
Tôi đưa tay cầm lên, phát hiện sách rất nặng, là loại sách bìa cứng
kiểu cũ, cùng loại giấy in từ điển, vừa trắng vừa mỏng, bao nhiêu năm
cũng không rách. Tên sách viết bằng tiếng Pháp.
A La Recherche Du Temps Perdu[1'>
[1'> Đi tìm thời gian đã mất: bộ tiểu thuyết dài 7 tập của đại văn hào Pháp Marcel Proust (1871-1922), đứng thứ 8 trên danh sách 10 tiểu
thuyết hay nhất mọi thời đại co tạp chí Times của Mỹ bình chọn vào năm
2007. Bảy tập lần lượt gồm có Bên phía nhà Swann (Du côté de chez
Swann), Dưới bóng những cô gái tuổi hoa (A l’ombre des filles en fleur), Về phía nhà Germantes (Côté de Germantes), Sodome và Gomorrhe (Sodome
et Gomorrhe), Cô gái bị cầm tù (La Prisonnière), Albertine biến mất
(Albertine disparue) và Thời gian tìm thấy lại (Le Temps trouvé).
Tôi nghe tiếng bước chân của anh.
“Em thích quyển sách này không?” Anh đi đến trước mặt tôi, hỏi.
“Em không biết tiếng Pháp.”
“Ngoại ngữ thứ 2 của em là gì?”
“Em chưa chọn.”
“Vậy còn mục tiêu dự kiến?”
“Trừ tiếng Anh và tiếng Trung, anh còn biết tiếng gì nữa?” Tôi hỏi.
“Tiếng Pháp và tiếng Đức. Tiếng Nhật thì chỉ nói được những câu đối thoại đơn giản, như Hajimemashite[2'> vậy thôi. ”
[2'> Xin chào: người Nhật dùng câu này để chào những người họ gặp mặt lần đầu tiên.
“Có lẽ em sẽ chọn tiếng Ý, hoặc là tiếng Ả Rập.”
Tóm lại, không chọn tiếng mà anh biết, tránh sau này bị người ta cười.
Anh nhìn tôi, cười nham hiểm, rõ ràng là hiểu suy nghĩ của tôi.
“Tên tiếng Anh của sách là Remembrance of Things Past, em học môn văn, chắc chắn có nghe qua.”
“Tên tiếng Trung là Tìm theo dòng chảy tháng năm.”
“Tìm theo dòng chảy tháng năm? Ừ, dịch hay lắm. Nếu có tối nào em mất ngủ, anh đọc quyển này bằng tiếng Pháp cho em nghe, chỉ cần đọc hết
trang thứ nhất là em buồn ngủ ngay.” Anh thì thầm bên tai tôi, âm anh
trầm trầm, như âm thanh nơi thiên đường.
“Thật không?” tôi xoay người lại, phát hiện anh vẫn khoác áo choàng
tắm, anh cúi đầu xuống, hơi thở nhè nhẹ phớt qua vành tai tôi.
“Tại sao?”
“Vì trang đầu tiên kể chuyện một người nằm trên giường, trằn trọc mãi không ngủ được.” Anh nhìn tôi, cười cười trêu: “Hai câu đầu tiên là như vầy:
“Longtepms, je me suis couché de bonne heure. Parfois, à peine ma
bougie éteinte, mes yeux se fermaient si vite que je n’ avais pas le
temps de me dire: “Je m’ endors[3'>.” ”
[3'> Câu mở đầu chương một của tập đầu tiên Bên phía nhà Swann.
Anh ngâm nga, tiếng Pháp đẹp đẽ vô cùng, giọng nói ngân vang đầy mê
hoặc, làm tôi buồn bã đến thất thần. Thấy vẻ mặt tôi đờ đẫn, anh giải
thích bằng tiếng Anh:
“It says: I have long had the habit of going to bed early. Sometimes, when I had put out my candle, my eyes would close so quickly that I had not even time to say “I’m going to sleep[4'>.””
[4'> Nghĩa là: Từ lâu, tôi có một thói quen đi ngủ sớm. Đôi lúc, khi
ngọn nến vừa tắt, mắt tôi liền sụp mi, nhanh đến nỗi tôi chẳng kịp nhủ
thầm một câu, rằng “Mình sắp ngủ rồi đây”.
“Rất hay, hay là anh dịch sang tiếng Trung luôn được không…?” Anh nói tiếng Trung cũng rất êm tai.
“Anh không giỏi tiếng Trung lắm… chỉ biết được 950 chữ Hán thôi. Ông nội anh nói, anh chỉ cần biết nhiêu đó là đủ dùng rồi.”
“Cái gì? Cái gì?” Tôi lớn tiếng nói “Văn hóa năm ngàn năm của đất nước, 950 chữ làm sao đủ được?”
“Cho nên, anh không dám dịch sang tiếng Trung, sợ em cười anh.”
“Em không cười anh đâu, thiệt mà.” Tôi nhìn anh “Người ta không yêu
cầu cao đối với trình độ tiếng Trung của Hoa Kiều đâu. Mà nếu anh không
nói ra, em cũng không biết là anh mù chữ.”
“Mù chữ?”
“Ừ, mù chữ.”
Anh đột nhiên nắm tay tôi lại.
“Sao vậy?”
“Tay không được lộn xộn. Bây giờ là thời gian thay đồ, a little bit of privacy, please[5'>.”
[5'> Làm ơn cho chút không gian riêng tư.
Tôi biết điều đi ra, lúc lâu sau, anh quần áo chỉ
