bố, dựa vào tính tình của ông, nếu biết chuyện lần này của hắn, nhất định sẽ khiến cho đại danh của hắn đi kèm một chi tiết bất hủ, không thì sẽ băm vằm hắn ra.
Phan Đông Minh nhìn hơn mười chiếc xe mà có chút buồn cười, hắn và Tạ Kiều là hai người, vậy mà lại dàn đầy xe như thế kia. Sợ tin tức bị truyền rộng, cuối cùng, hắn kêu họ về hết, chỉ để lại hai chiếc, một chiếc chở “thành ý” của các vị trong quân khu, một chiếc để đi. Đội trưởng Thẩm tự mình lái xe đưa họ đi. Lúc sắp phải đi, hắn nói với đội trưởng Thẩm: “Trước kia, khi ông nội tôi đến đây có ghé qua chùa Thạch Kinh, lúc đó sức khỏe bà nội tôi không được tốt, ông nội tôi cứ thấy chùa miếu là lại vào cầu phúc. Đến đây rồi, nghe nói có chùa Thạch Linh rất thiêng, tôi thấy vẫn còn sớm, hay là đến đó một lúc đi.”
Đội trưởng Thẩm cười nói: “Chúng tôi vẫn để bức ảnh thủ trưởng dâng hương ở triển lãm đấy. Biết trước thế này thì đã dẫn hai người đi chơi vài hôm rồi, giờ thì hơi vội.”
“Haiz, sắp Tết rồi, không về nhà là lại bị ăn mắng, giấu mặt cũng hơn một tháng nên không biết nói dối thế nào đây, không chừng về nhà còn bị đánh nữa, nói thật là tôi không muốn về.”
“Vậy lần sau có cơ hội thì lại đến đây, chúng tôi luôn hoan nghênh, chỉ sợ cậu không rảnh thôi.”
Tạ Kiều nhỏ giọng nói: “Có phải đi leo núi không? Chân anh như vậy thì leo núi làm sao được.”
Phan Đông Minh nắm tay Tạ Kiều, nói: “Không sao, anh nhớ là con đường đó rất tốt, ngay giữa sườn núi, đi mấy bậc thang là đến.”
Đội trưởng Thẩm vừa lái xe vừa nói cười: “Đông Minh nói đúng đấy, tình hình giao thông bây giờ còn tốt hơn lúc đó nhiều, xe có thể lái đến tận trước cổng, không cần đi đường núi.”
Con đường lên núi quả nhiên được sửa rất dễ đi bởi nó nối liền với đoạn cao tốc Trùng Khánh, con đường dẫn đến tận cửa chùa đều đường rải nhựa. Vừa xuống xe, Tạ Kiều ngẩng đầu nhìn những bậc thang đá uốn lượn. Cũng gần đến Tết nên cảnh tượng thường gặp nhất chính là dâng hương trong chùa, chỗ nào cũng thấy người cầm cây hương nghi ngút khói thành kính cầu khấn, khung cảnh vô cùng náo nhiệt. Đội trưởng Thẩm cười nói: “Hàng năm tôi cũng đến đây thắp hương một lần, đến thăm hỏi trụ trì, thứ nhất là thành tâm, thứ hai là vì thấy cũng có vẻ linh. Đông Minh, tôi thấy vẫn nên thuê một cái xe kéo đi, chân cậu chưa khỏi hẳn, đi cũng mệt.”
Phan Đông Minh nhìn người kéo xe gầy gò như que củi thì xua tay: “Thôi, thể tạng này của tôi không khéo làm người ta nằm sấp xuống mất, mà tôi thấy cũng không sao đâu, đi thôi.”
Cổng chùa Thạch Kinh rất cao, bên trên có hai tấm biển, một ghi “Thạch Kinh Tự”, một đề “Kim cang đàn tràng”. Đội trưởng Thẩm nhận làm hướng dẫn viên, nói với Phan Đông Minh và Tạ Kiều: “Đây là bút tích của Triệu Phác Sơ.”
Đi qua cửa, một đình viện lập tức hiện ra, phía trước là chiếc lư hương cực lớn, sương khói mù mịt. Phía sau lư hương là một đại điện, không biết bên trong thờ vị nào. Bốn phía của đình viện đều là du khách, vô cùng đông đúc. Đội trưởng Thẩm dẫn họ leo lên bậc thang thập cấp. Vì đường hẹp và đông người, mà Phan Đông Minh không thể đi nhanh nhẹn được, chỉ có thể lê từng bước nên đội trưởng Thẩm và Tạ Kiều luôn đứng bên cạnh, sợ hắn không cẩn thận mà đụng phải người khác. Vất vả lắm mới đến nơi, ánh lửa bập bùng, khói tỏa nghi ngút. Thì ra đó là một cái sân bằng phẳng, phía sân bên trái có ba tòa tháp, trước tòa tháp là nơi đốt lửa, cả đám người vây quanh chen chúc để đốt hương trên ngọn lửa. Ngọn lửa rất cao, gần như liếm qua cả nhánh cây giữa không trung.
Phan Đông Minh ngẩng đầu nhìn cây rồi lại hỏi đội trưởng Thẩm: “Ấy, ngọn lửa này không thiêu cháy cái cây đấy chứ?”
Đội trưởng Thẩm cười, nói: “Sao có thể chứ, có Phật tổ phù hộ mà.”
Phan Đông Minh bật cười: “Anh tin quá đấy…” Hắn chưa nói xong đã bị Tạ Kiều âm thầm véo một cái. Hắn quay đầu lại, Tạ Kiều liền cau mày, nhỏ giọng nói: “Đang ở đất thánh nhà Phật, anh đừng có mà nói linh tinh.”
Hắn cười, ôm chặt Tạ Kiều rồi nói: “Không phải. Hay là chúng ta đi mua hương vái Phật đi, anh thấy cũng có nhiều người dáng vóc tiều tụy lắm, anh cũng phải thành kính mới được.”
Ở gần đó có bán hương dài, chừng hơn một mét, có quầy còn bán nến thơm. Phan Đông Minh bắt chước người khác, cắm ba vây hương vào chiếc lư, còn chắp tay rồi lẩm nhẩm. Hắn mở mắt nhìn Tạ Kiều đang chắp tay, cúi đầu và nhắm mắt nghiêm túc khấn Phật. Đội trưởng Thẩm đi ra từ phía trong đại điện, cầm theo một miếng lụa đỏ, trên đó có vẽ con mắt của phật Quan Âm và đề chữ “Phúc”. Anh ta nói: “Cái này có thể mang đến bình an cát tường, chúng ta cũng phải đi cầu phúc thôi.”
Trong chùa có một cây tùng La Hán, đội trưởng Thẩm nói là nó được trồng trong nhiệm kỳ của Chu Hiển Đức, trải qua bao mưa gió vẫn đừng sừng sững, là báu vật của ngôi chùa. Từ xa nhìn lại, trên cây tùng xanh tươi đầy những dải lụa cầu phúc, Phan Đông Minh khẽ nói: “Trước đây đã từng đến chỗ này cầu phúc cho bà nội, cũng đã bao nhiêu năm rồi, dáng vẻ của nó vẫn giống trong hồi ức, không khác nhiều lắm, vẫn là dáng vẻ cũ.”
Phan Đông Minh vốn không tin vào thần phật, nhưng đứng trước cái cây cổ thụ,