n tới sự nghi kỵ của Hoàng
Thượng. Chờ thêm một thời gian nữa, khi Thường Ngọc Thanh không còn quá
nổi bật, lúc ấy muốn tái nhậm chức, Thường gia chỉ cần đứng sau lưng đẩy một phen là có thể được. Đây cũng là bọn họ đang bảo hộ cho con cháu
của tướng môn đã có cả trăm năm truyền thống của mình.”
“Chúng ta thì sao?” Khương Thành Dực nhịn không được hỏi.
Trần Khởi cười cười, nhẹ giọng
nói:“Chúng ta thì không được, nền tảng của chúng ta quá nhỏ bé, không
đứng vững được thì chúng ta phải lui xuống.” Anh ta trầm mặc một lát,
khi ngước mắt lên, trong mắt đã tràn đầy vẻ kiên nghị, cao giọng nói:
“Chuẩn bị hai ngàn kỵ binh, theo ta tiến đến Tĩnh Dương nghênh đón thánh giá nhập quan!”
Tháng tư về, hoa đào nở rộ khắp triền núi.
Mấy ngày này, Từ Tĩnh thanh nhàn hiếm thấy, sau khi đi nửa vòng quân doanh, lại chắp tay sau lưng chậm rãi đi ra bên ngoài, khi đến trước một triền núi, thấy trên sườn dốc thoai
thoải có vài cây đào núi bắt đầu khai hoa rất đẹp, Từ Tĩnh nhất thời cao hứng đến đây, vô tình đi đến dưới tàng cây, ngẩng đầu nhìn cành hoa đào đến nhập thần.
Tiểu thị vệ vẫn đi theo phía sau
tưởng ông ta muốn ngắt mấy cành đào đem về cắm ở trong phòng, vội vàng
tiến lên ân cần hỏi: “Tiên sinh, ngài xem cành này thế nào, ta cắt xuống cho ngài nhé.”
Từ Tĩnh nghe vậy thì sửng sốt, chút
thi hứng vừa mới nổi lên đã bị tiểu thị vệ dùng một từ “Cắt” làm cho đứt vỡ tan tành, không khỏi vuốt râu liếc mắt nhìn tiểu thị vệ, tức giận
mắng một câu: “Phàm phu!”
Tiểu thị vệ bị Từ Tĩnh mắng thì chẳng hiểu gì, đang muốn hỏi lại, đã thấy Từ Tĩnh đột nhiên biến sắc mặt.
“Hỏng rồi! Gió thu(2) lại tới nữa
rồi!” Từ Tĩnh thấp giọng nói thầm, vừa nói vừa chạy lại nấp sau tán đào, nhưng thân cây đào núi kia chỉ bằng cái bát nhỏ, lại đang thời kỳ nở
hoa, sao có thể che lấp một người được? Từ Tĩnh vòng qua cây đào được
nửa vòng, cũng phát hiện nơi này không thể trốn, đành phải uốn mình như
con mèo men theo sườn núi trốn đi, mới được vài bước, chợt nghe thấy
tiếng A Mạch từ phía xa xa truyền tới:“Tiên sinh!”
Từ Tĩnh giả bộ như không nghe thấy,
dưới chân ngược lại bước nhanh thêm chút nữa, nhưng ông ta sao nhanh
được bằng A Mạch, chỉ trong chốc lát, thanh âm của A Mạch đã ở ngay sau
lưng: “Tiên sinh, tiên sinh!”
Từ Tĩnh bất đắc dĩ đành phải ngừng lại, quay người dựa vào một gốc đào thở hồng hộc nhìn về phía A Mạch.
Sắc mặt của A Mạch so với lần gặp
trước có chút hồng nhuận, bởi vì chạy gấp, trên trán rịn mồ hôi, chỉ mỉm cười nhìn Từ Tĩnh, cười hỏi: “Tiên sinh thật là cao hứng, ở đây thưởng
thức hoa đào sao?”
—————
Chú thích:
1- Tái ông mất ngựa: Nghĩa đen: Tái
ông thất mã là ông già ở vùng biên giới mất ngựa. Nghĩa bóng: họa, phúc
xoay vần, khó biết trước được.
Thành ngữ này xuất phát từ điển tích sau:”Một ông lão ở gần biên giới giáp với nước Hồ phía Bắc nước Tàu,
gần Trường thành, có nuôi một con ngựa. Một hôm con của ông lão dẫn ngựa ra gần biên giới cho ăn cỏ, vì lơ đễnh nên con ngựa vọt chạy qua nước
Hồ mất dạng. Những người trong xóm nghe tin đến chia buồn với ông lão.
Ông lão là người thông hiểu việc đời nên rất bình tỉnh nói: – Biết đâu con ngựa chạy mất ấy đem lại điều tốt cho tôi.
Vài tháng sau, con ngựa chạy mất ấy quay trở về, dẫn theo một con ngựa của nước Hồ, cao lớn và mạnh mẽ.
Người trong xóm hay tin liền đến chúc mừng ông lão, và nhắc lại lời ông lão đã nói trước đây.
Ông lão không có vẻ gì vui mừng, nói: – Biết đâu việc được ngựa Hồ nầy sẽ dẫn đến tai họa cho tôi.
Con trai của ông lão rất thích cỡi
ngựa, thấy con ngựa Hồ cao lớn mạnh mẽ thì thích lắm, liền nhảy lên lưng cỡi nó chạy đi. Con ngựa Hồ chưa thuần nết nên nhảy loạn lên. Có lần
con ông lão không cẩn thận để ngựa Hồ hất xuống, té gãy xương đùi, khiến con ông lão bị què chân, tật nguyền.
Người trong xóm vội đến chia buồn với ông lão, thật không ngờ con ngựa không tốn tiền mua nầy lại gây ra tai
họa cho con trai của ông lão như thế.
Ông lão thản nhiên nói: – Xin các vị
chớ lo lắng cho tôi, con tôi bị ngã gãy chân, tuy bất hạnh đó, nhưng
biết đâu nhờ họa nầy mà được phúc.
Một năm sau, nước Hồ kéo quân sang
xâm lấn Trung nguyên. Các trai tráng trong vùng biên giới đều phải sung
vào quân ngũ chống ngăn giặc Hồ. Quân Hồ thiện chiến, đánh tan đạo quân
mới gọi nhập ngũ, các trai tráng đều tử trận, riêng con trai ông lão vì
bị què chân nên miễn đi lính, được sống sót ở gia đình.”
Sau khi kể câu chuyện trên, sách Hoài Nam Tử đưa ra luận điểm: Họa là gốc của Phúc, Phúc là gốc của Họa. Họa
Phúc luân chuyển và tương sinh. Sự biến đổi ấy không thể nhìn thấy được, chỉ thấy cái hậu quả của nó.
Do đó, người đời sau lập ra thành
ngữ: Tái ông thất mã, an tri họa phúc.Nghĩa là: ông lão ở biên giới mất
ngựa, biết đâu là họa hay là phúc.
Hai điều họa phúc cứ xoay vần với
nhau, khó biết được, nên khi được phước thì không nên quá vui mừng mà
quên đề phòng cái họa sẽ đến; khi gặp điều họa thì cũng không nên quá
buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh thần. Việc đời, hết may tới rủi, hết
rủi tới may, nên bắt chước tái ông mà giữ sự th